Bản phúc trình về lạm dụng trẻ vị thành niên ở Hoa-kì

Bản phúc trình 

về lạm dụng trẻ vị thành niên ở Hoa-kì


Evelyn Finger chuyển từ Anh ngữ ra Đức ngữ. Die Zeit
P. Hồng-Lam dịch theo bản tiếng Đức

Toàn văn bản phúc trình tiếng Anh dài 884 trang, do một Bồi Thẩm Đoàn gồm 23 người lập. Sau đây là phần trích một số đoạn quan trọng nhất. Bản phúc trình đã được phổ biến rộng rãi. Pensylvania ở khắp mọi nơi.



Bildergebnis für kindesmissbrauch in pennsylvania bilder
Trong buổi trình bày bản phúc trình

„Yêu Cầu Quý Vị Hãy Nghe Chúng Tôi Nói!“

Chúng tôi, những thành viên của Bồi Thẩm Đoàn (Grand Jury), yêu cầu quý vị hãy lắng nghe chúng tôi. Chúng tôi biết, một số trong quý vị đã nghe được ít nhiều rồi. Đã có nhiều bản thẩm định về việc lạm dụng tình dục trong Giáo Hội công giáo đối với trẻ vị thành niên. Nhưng chưa bao giờ ở mức độ như thế này. Nhiều người trong chúng tôi đã tin rằng, những chuyện như thế này hẳn đã xẩy ra ở đâu đó rất xa. Nhưng giờ đây chúng tôi biết được sự thật, là chúng đã xẩy ra khắp mọi nơi.
Chúng tôi lãnh nhiệm vụ khảo sát việc lạm dụng trẻ em trong sáu giáo phận thuộc bang Pensylvania, hai giáo phận còn lại khác đã được điều tra xong trước đây rồi. Chúng tôi đã nghe lời khai của hàng tá người chứng về việc lạm dụng tình dục trẻ em do giáo sĩ gây ra. Chúng tôi đã kiểm tra nửa triệu trang tài liệu nội bộ của các giáo phận. Chúng chứa đựng những tố cáo đáng cậy đối với hơn ba trăm linh mục thủ phạm. Qua các tư liệu này chúng tôi đã xác định được hơn một ngàn nạn nhân. Chúng tôi tin rằng, con số thật các trẻ em nạn nhân – hoặc vì sợ không bao giờ dám lên tiếng hoặc vì hồ sơ đã thất lạc – lên đến nhiều ngàn người.
Đa số các nạn nhân là các cháu trai, nhưng cũng có các cháu gái nữa. Một số ở độ tuổi thiếu niên (teenager), nhiều cháu trẻ hơn. Một số bị lợi dụng bằng bia rượu và hình ảnh khiêu dâm. Có những em phải kích dâm cho kẻ làm hại mình. Một số bị cưỡng dâm đường miệng, một số qua đường sinh dục, một số qua hậu môn. Tất cả các tội ác đều được bôi xoá, bị xem thường bởi các lãnh đạo giáo hội trên toàn tiểu bang, những vị này đã đặt việc bảo vệ những thủ phạn lạm dụng và bảo vệ định chế lên hàng ưu tiên.
Hậu quả của của các nỗ lực che đậy là gần như hầu hết các trường hợp mà chúng tôi khám phá đều đã quá thời hạn, để có thể mang ra toà án luận tội. Điều này không có nghĩa là không còn thủ phạm nào nữa. Bồi Thẩm Đoàn này đã đưa đơn khởi tố đối với một linh mục thuộc giáo phận Greesburg và một linh mục thuộc giáo phận Erie, về những hành vi lạm dụng tình dục trẻ em của họ trong vòng mười năm trở lại đây. Chúng tôi biết được là qua thông tin của các giáo phận – một chỉ dấu cho chúng ta hi vọng, là Giáo Hội sẽ có cơ thay đổi.
Dù vậy chúng tôi không hài lòng về mấy vụ khởi tố ít ỏi này. Chúng tôi thất vọng, vì quá nhiều hành vi phạm pháp đã thoát lưới án phạt và không phải bồi thường. Bản tường trình này là vũ khí duy nhất của chúng tôi. Chúng tôi nêu ra danh tính và hành vi - của kẻ lạm dụng lẫn kẻ bao che. Chúng tôi đưa ra ánh sáng những tội ác của họ, bởi vì dó là điều chúng tôi mắc nợ các nạn nhân. Và chúng tôi nêu lên những đề nghị sửa đổi luật, để cho trong tương lai chẳng cần phải viết ra những bản thẩm định như thế này nữa.

Trong phần đầu của bản tường trình chúng tôi soi sáng từng giáo phận một qua nhiều nố nghiên cứu trường hợp cụ thể, chúng mô tả việc lạm dụng cũng như cách thức đối phó của các lãnh đạo giáo phận. Dù mỗi giáo phận có những nét riêng, nhưng khuôn thước hành động thì vẫn y như nhau: Người ta chẳng đoái hoài gì tới các cháu, mà chỉ lo tránh „chuyện tai tiếng“. Từ ngữ này không phải của chúng tôi, mà của họ; nó xuất hiện đi xuất hiện lại trong các hồ sơ. Các khiếu nại về lạm dụng đều được dấu cất vào trong các „hồ sơ mật“. Đây cũng là từ ngữ của họ, chứ không phải của chúng tôi; Giáo Luật (Codex Iuris Canonici) buộc các giáo phận phải lập những hồ sơ mật như thế và chỉ giám mục giáo phận mới có quyền mở hồ sơ này.

Trong các hồ sơ người ta đã sử dụng những thủ thuật che đậy, khiến chúng tôi đã phải nhờ tới sự trợ giúp cùa Federal Bureau of Investigation. Do đó cơ quan FBI đã gởi các chuyên viên thuộc Center for the Analysis of Violent Crime của họ tới giúp thẩm tra đa phần tài liệu thu thập. Các chuyên viên điều tra đã nhận ra một loạt những phương thức được lập đi lập lại trong các hồ sơ giáo phận. Chúng trở thành như một luật chung để che đậy sự thật.
Trước hết, hãy dùng uyển ngữ (lối nói trại) trong việc mô tả các vụ xâm phạm tình dục. Chớ bao giờ dùng từ „cưỡng hành, cưỡng dâm“, mà nên dùng „giao tiếp không thích hợp“ hay „vượt qua giới hạn“.
Thứ hai, chớ để cho những người chuyên môn điều tra, mà uỷ cho các thành viên trong hàng giáo sĩ làm; họ sẽ đánh giá mức độ tin cậy của những đồng nghiệp mà họ cùng sống và cùng làm việc.
Thứ ba, để giữ vẻ tính cách độc lập, hãy gởi các linh mục tới các trung tâm chữa trị tâm thần của Giáo Hội để „điều tra“. Hãy để các trung tâm đó xét xem, linh mục này có bị chứng loạn dục trẻ em (pädophil) hay không, tất cả chủ yếu dựa trên „lời tự khai“ của đương sự, chứ không đá động gì tới việc đương sự đã có lạm dụng tình dục hay không.
Thứ tư, khi một linh mục phải thuyên chuyển, đừng giải thích tại sao. Hãy nói cho cộng đoàn hay, là ông „bị đau“ hay „suy sụp thần kinh“. Hoặc chẳng nói gì cả.
Thứ năm, nếu một linh mục có cưỡng hành trẻ thật, cứ tiếp tục trả tiền nhà và tiền sinh sống cho đương sự, cho dù dương sự có thể lợi dụng điều đó, để cưỡng dục tiếp.
Thứ sáu, khi một thủ phạm bị bại lộ, đừng cất chức linh mục của đương sự, để cho đương sự khỏi làm hại các trẻ em khác. Thay vào đó hãy thuyên chuyển đương sự tới một nơi chưa ai biết tẩy của ông ấy.
Cuối cùng, đừng thông báo cho cảnh sát. Lạm dụng tình dục trẻ em trước sau vẫn là một tội ác. Nhưng đừng đối xử nó như một tội ác. Hãy coi nó như một vấn đề nhân sự „trong nhà“.

Một vài thí dụ: Trong giáo phận Erie, khi một linh mục thú nhận là đã xâm phạm hơn một chục trẻ em nam, ông được giám mục „cám ơn về tất cả những gì Cha đã làm cho dân Chúa… Chúa sẽ trả công bội hậu cho Cha“. Một linh mục khác thú nhận, đã cưỡng dâm đường miệng và hậu môn đối với ít nhất là 15 trẻ, em nhỏ nhất mới bảy tuổi. Giám mục về sau gọi đương sự là một „con người bộc trực và trong sáng“, ngoài ra còn khen ông đã có „những tiến bộ“ trong việc chế ngự „cơn nghiện“ của mình. Khi linh mục đó rốt cuộc bị treo chén, giám mục nhắc nhở cộng đoàn đừng nói gì tới các lí do gì cả.
Trong giáo phận Greensburg một linh mục làm một thiếu nữ 17 tuổi mang thai; ông này đã giả mạo chữ kí của linh mục chính sở trên tờ hôn thú, để sau đó vài tháng tiến hành li hôn với cô gái. Dù vậy, ông vẫn được tiếp tục công việc coi xứ - giáo phận đã nhờ được một giám mục giáo phận trong bang khác thương tình nhận ông.
Cả giáo phận Scranton cũng coi trọng việc bảo vệ thủ phạm hơn là bảo vệ các em. Một linh mục triều đã bị bắt và bị kết án, sau khi giáo phận đã làm ngơ trước những cáo buộc lạm dụng của đương sự trong nhiều chục năm trời. Khi bản án sắp sửa ra, giám mục giáo phận liền viết thư cho ông chánh án, xin ông này chuyển bị cáo tới một trung tâm chữa trị công giáo. Giám mục nhấn mạnh tới phí tổn của việc giam giữ. Một trường hợp khác, sau khi đã làm cho một thiếu nữ mang thai, vị linh mục liên hệ đã tổ chức việc phá thai cho cô. Giám mục viết thư nói lên sự đồng cảm của mình: „Đây là một giai đoạn khó khăn trong đời Cha, và tôi hiểu nỗi thất vọng của Cha. Tôi cũng chia sẻ nỗi đau của Cha.“Tiếc rằng lá thư đã không được gởi cho cô gái, mà lại gởi cho kẻ làm hại cô.

Chúng tôi biết rằng, đa phần các trường hợp đề cập trong bản phúc trình này đã xẩy ra trước năm 2000. Các tài liệu đã được giữ kín quá lâu. Sở dĩ lúc này chúng mới được khui ra, là nhờ có Bồi Thẩm Đoàn này. Nhưng cái kết quả mang tầm lịch sử này quan trọng cho hiện tại và tương lai. Hàng ngàn nạn nhân trẻ em bị lạm dụng trong Giáo Hội cần phải được nêu lên, để họ có thể tiếp tục sống. Người dân cũng cần phải biết tới, để họ cùng đóng góp vào nỗ lực cải tiến tình trạng luật pháp.
Chúng tôi công nhận, là đã có nhiều đổi thay trong 15 năm qua. Các giáo phận có liên quan trong việc điều tra có thông tin cho chúng tôi biết về những cải tiến về mặt áp dụng luật của họ. Năm giám mục đã viết thư cho chúng tôi trình bày quan diểm của họ. Giám mục giáo phận Erie trực tiếp gặp chúng tôi. Lời phát biểu của ông thẳng thắn và thành thật, nó gây ấn tượng nơi chúng tôi. Xem ra Giáo Hội từ nay sẽ nhanh tay hơn trong việc thực thi biện pháp đối với lạm dụng. Những biện pháp kiểm soát nội bộ đã được thiết lập. Các nạn nhân không còn chỉ là những hình bóng hoàn toàn mơ hồ nữa.
Nhưng chúng tôi biết, nạn lạm dụng trẻ em trong Giáo Hội không biến mất, là vì hai trường hợp mà chúng tôi đem ra tòa trong hai giáo phận khác nhau còn nằm trong thời hạn hiệu lực để khởi tố. Chúng tôi cũng biết, có thể có những nạn nhân khác nữa, nhưng họ chưa dám thông báo cho cảnh sát. Qua tiếp xúc với các nạn nhân, chúng tôi biết được rằng, để có can đảm nói ra, cần phải có thời gian. Chúng tôi hi vọng bản phúc trình của chúng tôi sẽ khiến cho họ mạnh dạn thêm.
Dù đã có những cải tiến định chế, các thành phần lãnh đạo Giáo Hội vẫn tránh né trách nhiệm công của mình. Các linh mục cưỡng dâm thiếu niên nam nữ, nhưng những người có trách nhiệm vẫn chẳng làm gì cả. Họ dấu tiệt mọi chuyện. Các đức ông, các giám mục phụ tá, các giám mục chính tòa, các tổng giám mục, các giáo trụ (hồng y) tất cả đều được bảo vệ. Nhiều người còn được thăng chức. Nếu những điều này chưa thay đổi, thì còn quá sớm, để có thể gấp lại cuốn sách về các lạm dụng tình dục trong Giáo Hội công giáo.

Chúng tôi không biết có nên nói chuyện này không, nhưng chúng tôi vẫn nói: Những điều tra này không phải là sự tấn công vào đức tin công giáo. Nhiều người trong nhóm bồi thẩm chúng tôi là người đang sống đạo công giáo. Nhiều người chúng tôi thẩm vấn, nạn nhân lẫn người chứng, là công giáo. Chúng tôi coi mình không phải là phe đối lập với đức tin, nhưng cảm thấy mình gắn bó với những kẻ tin. Lạm dụng trẻ em không những là bất hợp pháp, mà nó còn đi ngược với tuyên tín của mọi tôn giáo lớn, trong đó có đạo Công Giáo. Tín hữu của mọi tôn giáo và những người không có đức tin đều muốn cho con em mình được sống trong an ninh.
Thành viên của Bồi Thẩm Đoàn là những người dân thường được chọn ra một cách ngẫu nhiên cho công tác điều tra. Chúng tôi nhận được ít lương, nhưng phải làm việc nhiều, và công việc của chúng tôi rất đau lòng. Tuy nhiên, công tác này đáng làm, vì chúng tôi đang thực thi công lí. Chúng tôi đã mất 24 tháng, để mang ra ánh sáng những điều khuất tất – để cuối cùng nhận ra rằng, luật pháp bảo vệ hầu hết các thủ phạm, còn nạn nhân thì chẳng được bảo vệ gì hết. Những luật lệ như thế phải được sửa đổi.
Trước hết; Chúng tôi đòi hỏi các nhà làm luật đừng chần chờ thêm nữa trong việc bảo vệ các thủ phạm lạm dụng qua việc giới hạn mức thời tiêu. Với một luật mới, các nạn nhân ở Pensylvania giờ đây có thể tố cáo người làm hại mình cho tới lúc họ 50 tuổi. Nhưng điều này không đủ. Phải bỏ luôn mọi giới hạn thời tiêu. Chúng tôi đã thẩm vấn các nạn nhân ở lứa tuổi 50, 60, 70, một người trong họ đã 83 tuổi. Chúng tôi muốn cho các nạn nhân trong tương lai hiểu rằng, quyền lực luật pháp đứng sau lưng họ, bao lâu họ còn sống. Chúng tôi muốn các thủ phạm làm hại trẻ em trong tương lai hiểu rằng, bao lâu còn sống, họ vẫn có thể bị tòa án kêu mời.
Thứ hai; Chúng tôi đòi hỏi phải có một khả thể cho phép nạn nhân có thể kiện giáo phận, để yêu cầu bồi thường cho những thiệt hại mà họ phải chịu trong thời niên thiếu. Chúng tôi đã làm quen với những nạn nhân này, cuộc đời họ không còn lành lặn. Nhiều người trong họ đâm ra nghiện ngập, không tìm được người phối ngẫu, chết sớm.
Thứ ba: Chúng tôi muốn có một luật buộc tố cáo khác. Qua hồ sơ các giáo phận, chúng tôi hiểu ra, là các nhân viên trong Giáo Hội luôn nại rằng, họ không bị buộc phải báo cáo các vụ lạm dụng trong cộng đoàn của họ cho cơ quan công quyền. Phải làm cho họ hiểu rằng, họ có nhiệm vụ phải báo cáo, bao lâu vẫn còn nguy cơ một trẻ khác có thể sẽ bị chính thủ phạm này xúc phạm.
Thành thật mà nói: Điều đó đối với chúng tôi vẫn chưa đủ. Chúng tôi không những đòi hỏi hình phạt đối với việc lạm dụng. Chúng tôi còn nhất quyết muốn Giáo Hội công giáo, một trong những cộng đoàn đức tin lớn nhất và là định chế có nhiệm vụ chăm lo hạnh phúc cho hơn một tỉ người trên thế giới, phải tổ chức làm sao, để kẻ chăn chiên không còn tìm cách săn bắt chiên mình nữa.
Nhiều linh mục có nêu tên trong phúc trình này đã mất. Dù vậy, chúng tôi vẫn nêu tên, bởi vì chúng tôi đoán rằng, nhiều nạn nhân của họ hãy còn sống – kể cả những nạn nhân có lẽ tưởng mình là kẻ duy nhất bị hại. Để họ biết rằng, không phải chỉ có mình họ. Không phải là lỗi của họ.

Sau cùng, chúng tôi phải nói thêm điều này. Trong khi chúng tôi hoàn thành bản phúc trình, đã có một nạn nhân, mà chúng tôi đã thẩn vấn, tự tử. Nơi giường bệnh viện, người này van xin chúng tôi một điều, là hãy cố làm cho xong phúc trình, để cho thế giới biết những gì đã thật sự xẩy ra. Chúng tôi tin rằng, chúng tôi nợ người phụ nữ này một điều gì đó. Và nợ cả những người khác, những người đã phải đau đớn giải bày quá khứ nặng nề của họ cho chúng tôi nghe. Chúng tôi hi vọng, bản phúc trình này sẽ trả cho họ điều mà chúng tôi mắc nợ họ.

P. Hồng-Lam dịch theo bản tiếng Đức, do Evelyn Finger chuyển từ Anh ngữ ra Đức ngữ. Die Zeit, số 35, ngày 23.08.2018