Các đại tuyệt chủng sinh vật trong lịch sử điạ chất

 Các đại tuyệt chủng sinh vật

trong lịch sử điạ chất

GS Thái Công Tụng
1. Dẫn nhập
 
Thuở trời đất nổi cơn gió bụi .Ta thường nghe câu nói ‘xưa như Trái Đất’. Thực vậy, hành tinh ta đang trú ngụ có lịch sử không phảì hàng triệu năm mà phải tính hàng tỷ năm. Lịch sử Trái đất trải dài khoảng 4,55 tỷ năm, từ khi Trái Đất hình thành từ Tinh vân mặt trời cho tới hiện tại.  Từ ‘thuở trời đất nổi cơn gió bụí’ đến ngày nay, trái đất ta ở biết bao là chuyện đã xảy ra trên hành tinh này: nào chiến tranh, nào nạn đói, cháy rừng, bão tố nhưng bài này chỉ giới hạn nói về các đại tuyệt chủng sinh vật do nhiều nguyên nhân như băng giá, như phun trào basalt hay thiên thể rơi từ không gian xuống trái đất.

 Vật đổi sao dời: Hôm nay đất liền, ngày mai hải đảo (nói hôm nay, ngày mai là nói theo thời gian địa chất). Hôm nay còn biển, ngày mai một hòn đảo do các phun trào từ lòng đất dâng trào lên tạo nên hay cũng có thể là bãi trồng dâu như câu thơ:
Trải qua một cuộc biển dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng
Và cứ thế, những chuyện vật đổi sao dời từ hàng trăm triệu năm nay cứ diễn tiến, ảnh hưởng đến sự tiến hoá của sinh vật, từ động vật không xương sống tiến lên động vật có xương sống, từ động vật dưới nước tiến hoá lên động vật lưỡng cư, rồi trên cạn, từ thực vật sơ đẳng tiến hoá lên thực vật cấp cao, mọc thành rừng dày, ảnh hưởng đến những vùng có tài nguyên như than đá, dầu hoả, quặng mỏ mà nền văn minh nhân loại mỗi ngày mỗi cần dến.

Nói về sự tiến hoá sinh vật, phải nhắc đến ông Charles Darwin (1809-1882), người Anh là một nhà nghiên cứu nổi tiếng đã phát hiện và chứng minh rằng mọi loài đều tiến hóa theo thời gian từ những tổ tiên chung qua sự chọn lọc tự nhiên và ngày nay đã trở thành nền tảng cho lý thuyết tiến hóa hiện đại. Khám phá của Darwin là lý thuyết thống nhất cho các ngành khoa học sinh vật vì có thể đưa ra lời giải thích duy lý cho sự đa dạng loài.. Nhưng trước đó cũng có nhà khoa học tự nhiên tên là Laplace (1744-1829) một người cổ động cho giả thuyết rằng tiến hoá sinh học xẩy ra và diễn biến theo các quy luật tự nhiên.

Bên cạnh những sự tiến hoá của sinh vật như trên, cũng có những tuyệt chủng lớn trong suốt thời gian từ lúc Trái Đất hình thành cho đến nay: đó là sự suy giảm rõ rệt mức độ phong phú và đa dạng các loài sinh vật lớn (không phải vi sinh vật). Hiện tượng này diễn ra khi tốc độ tuyệt chủng tăng nhanh so với tốc độ hình thành loài. Do phần lớn sinh vật trên Trái Đất là vi sinh vật vốn không để lại nhiều dấu tích trong lịch sử sinh học để nghiên cứu nên tuyệt chủng hàng loạt có thể không thực sự ảnh hưởng lớn đến toàn bộ đa dạng sinh học trên Trái Đất mà chỉ tác động vào nhóm các sinh vật có kích thước quan sát được. Các hóa thạch từ sinh vật biển thường được sử dụng để tính toán tốc độ tuyệt chủng bởi số lượng hóa thạch phong phú và đa dạng xuất hiện trong nhiều lớp thạch quyển so với sinh vật trên cạn. 

 Đại diệt chủng sinh vật xảy ra khi có nhiều loài sinh vật bị biến mất trong một giai đoạn nào đó trong lịch sử địa chất. Trong số những loài sinh vật đã từng sống trên Trái Đất, có 97% đã hoàn toàn biến mất. Tuy vậy, tốc độ tuyệt chủng diễn ra không đồng nhất trong mọi thời kì. Do đó, cần tìm hiểu qua về lịch sử địa chất của Trái Đất ta ở trước khi bàn về các đại tuyệt chủng.

2. Nói qua về lịch sử địa chất của Trái Đất ta ở

Lịch sử địa chất của Trái Đất ta ở có thể phân chia tổng quát thành hai giai đoạn: Tiền Cambri (PréCambrien) và liên đại Hiển Sinh. Vì lịch sử địa chất xưa như vậy, nên trong ngành địa chất học, người ta phải chia ra nhiều thời kỳ khác nhau để dễ thảo luận (nguyên đại Cổ sinh Paleozoi, nguyên đại Trung sinh Mesozoi, nguyên đại Tân sinh Cenozoi), nhưng các nhà địa chất cũng chỉ biết lịch sử trái đất từ vài trăm triệu năm trở lại đây mà thôi, do nghiên cứu các hoá thạch và các phương pháp dùng đồng vị phóng xạ để đo tuổi đất. Hơn nữa, trước nguyên đại Cổ Sinh Paleozoi, có một thời kỳ kéo dài từ sự tạo hình Trái Đất  4.5 tỷ năm trước đây và chấm dứt cách nay 570 triệu năm thường được gọi là Tiền Cambri (Precambrian)

2.1. Giai đoạn Tiền Cambri (PreCambrian) hay còn gọi là liên đại Nguyên Sinh (Proterozoic)
Liên đại Nguyên Sinh kéo dài từ khoảng 2 500 triệu năm trước tới khoảng đầu kỷ Cambri (khoảng 542 triệu năm trước), có nhiều cung  núi lửa với  nhiều dạng sống sơ khai ở đại dương; điạ khai cho thấy thời đó có nhiều tảo gọi là sromatolit và nhiều sinh vật rất nhỏ.  Ngày nay, người ta càng ngày càng sử dụng danh xưng liên đại Nguyên Sinh (Proterozoic) để chỉ giai đoạn Tiền Cambri. Trong liên đại này, cũng đã có một vài thời kỳ băng hà hoá cũng như có các sinh vật đa bào. Ngoài ra, trong liên đại này có sự tích lũy oxy trong khí quyển Trái Đất.

Các sự kiện băng hà hóa đã biết đầu tiên diễn ra trong liên đại Nguyên Sinh; một trong số đó bắt đầu chỉ ngay sau khi liên đại này bắt đầu. Tiếp theo liên đại Nguyên Sinh (Proterozoic) là  các nguyên đại Cổ Sinh (Paleozoic), nguyên đại Trung Sinh (Mesozoic), nguyên đại Tân Sinh (Cenozoic):

2.2. Nguyên đại Đại Cổ Sinh (Paleozoic). Trước kia, người ta dùng danh từ kỷ thứ nhất (ere primaire). Nguyên đại này, từ 570 triệu năm  đến 245 triệu năm trước, chia ra 6 kỷ lớn bắt đầu từ xưa nhất là: Cambri, Ordovic, Silur, Devon, Carbon và Permi. Thoạt tiên ở nguyên đại này, đời sống chỉ là những vi khuẩn, rong biển và đời sống chỉ hiện trên biển vì trên đất còn thiếu không khí. Cũng trong thời kỳ này có loài cá, chuyển từ sống dưới nước đến đời sống lưỡng cư. Trong nguyên đại Paleozoic, phải kể đầu tiên là bùng nổ Cambri, sau đó là tuyệt chủng giai đoạn Ordovic, tuyệt chủng giai đoạn Devon và tuyệt chủng giai đoạn Permi, đánh dấu chuyển giai đoạn Đại Cổ Sinh (Paleozoic) sang giai đoạn Trung Sinh (Mesozoic).

Lúc sơ khởi nguyên đại Paleozoic, đời sống chỉ giới hạn với những vi khuẩn đơn giản, rong biển, tiếp theo là những loài chân khớp (Arthropodes), các loài cá, và giai đoạn chuyển từ đời sống dưới nước sang đời sống trên cạn.  Nguyên đại Cổ Sinh là thời kỳ có nhiều lớp chân đầu (Cephalopod, tổ tiên các loài mực hiện nay); cuộc sống chỉ ở dưới biển và có nhiều loài như bộ ba thùy ( trilobite), con bút đá ( graptolit), động vật tay cuộn (brachiopod), phiêu sinh vật, san hô và loài nhuyễn thể (mollusque).

Trong kỷ Ordovic thì mực nước biển khá cao với các di tích còn lưu lại trong các lớp đá . Các loại đá thuộc kỷ Ordovic chủ yếu là đá trầm tích. Vào thời đó, có một đại lục phía Nam bao gồm những xứ mà ngày nay ta gọi là Nam Mỹ, Phi châu, Ấn Độ, Úc châu có tên Gondwana. .Vào đầu kỷ Ordovic thì lục địa này nằm ở các vĩ độ gần xích đạo và dần dần trôi dạt xuống Nam Cực. Thời kỳ Tiền Ordovic được cho là rất ấm, ít nhất là tại các vĩ độ thuộc miền nhiệt đới. Các vùng nước nông và trong suốt trên các thềm lục địa đã tạo điều kiện cho sự phát triển của các nhóm sinh vật có khả năng tích tụ cacbonat canxi trong lớp mai (vỏ) hay các phần cứng của chúng.  Phía Bắc bán cầu, lúc đó cũng có một khối bao trùm các xứ mà ngày nay gọi là Bắc Mỹ, Siberia, Bắc Âu, Tây Á và Trung Hoa .Bắc Mỹ chỉ là một vùng thấp có lúc bị đại dương tràn vào, tạo nên nhiều đá vôi, giải san hô va sa thạch (sandstone)
Kỷ Devon con gọi là kỷ các loài Cá nhưng cuối giai đoạn Devon đã có nhiều sinh vật biển bị mất đi vì sự dao động của mực nước biển vì có thời kỳ băng hà xen lẫn với thời kỳ gian băng: nhiều loài loài động vật hình rêu (Bryozoaire), động vật tay cuộn (brachiopode) động vật chân đầu (cephalopode), động vật thân giáp (ostracode)
.
Sự tăng giảm của mực nước biển qua các kỷ băng hà liên tiếp theo chu kì đã tạo nên nhiều “hốc sinh thái” trên lục địa. Sự đa dạng sinh học suy giảm dần, đặc biệt các loài có môi trường sống bị hạn chế ở vùng thềm lục địa và nhiệt đới cũng chịu ảnh hưởng lớn
Cuối giai đoạn Đại Cổ Sinh, mọi lục địa họp dính lại nhau tạo thành Pangaea nó bao gồm phần lớn diện tích đất đai của Trái Đất, với sự diệt chủng đến 75% các loài lưỡng cư và 80% sinh vật biển .Đồng thời giai đoạn này có sự phát triển nhiều loại cây, nhiều loài cá, cá mập. Nhiều loài lưỡng cư rời đại dương để lên bờ. Cảnh quan thời đó phần lớn là đầm lầy.

2.3 Nguyên đại Đại Trung Sinh (Mesozoic), từ quãng 245 triệu năm đến 66 triệu năm trước đây, gồm nhiều kỷ khác nhau, theo thứ tự: kỷ Trias, kỷ Jura, kỷ Creta, với rất nhiều loài khủng long (dinosaur).Nhiều đá sa thạch. Vùng đất thấp thường bị ngập vì biển tiến.  Nhiều vùng đầm lầy tại các điều kiện nhiệt đới sau này trở thành các mỏ than. Giữa nguyên đại Đại Trung Sinh, Pangea trôi dạt vào phía bắc Laurasia và phía nam Gondwana. Đá phún xuất và hoạt động núi lửa tạo ra những dãy núi phía Tây Bắc Mỹ. Trong giai đoạn Đại Trung Sinh, nhiều loài thực vật hình nón (Coniferes) và bạch quả xuất hiện . Loài bò sát đẻ trứng trên bờ. Các loài động vật có vú mới xuất hiện giai đoạn này . Cuối giai đoạn Đại Trung Sinh cũng là đánh dấu diệt chủng các loài khủng long . 


Sự kiện tuyệt chủng đã loại bỏ nhiều loài động vật lớn trên Trái đất, tạo điều kiện cho khủng long thống trị hành tinh suốt kỷ Jura và kỷ Phấn Trắng (Creta). Khủng long làm chủ toàn bộ mặt đất, trong khi đó các vùng nước ngọt là địa phận của tổ tiên loài cá sấu ngày nay (thuộc lớp phụ thằn lằn), nhóm thằn lằn cổ rắn và thằn lằn cá trở thành bá vương biển cả.
.
Cuộc tuyệt chủng mở ra thời kì cực thịnh của bò sát với sự thống trị của khủng long.

Tuy nhiên, khi thời đại của bò sát đang vô cùng thịnh vượng thì Trái Đất gặp thảm họa tiếp theo - cuộc đại tuyệt chủng Creta - Paleogen.
Vài loài tồn tại như rùa, rắn, cá sấu và vài loại thằn lằn. Đại Trung Sinh là một trong những thời kỳ tăng cường các hoạt động kiến tạo. Nó bắt đầu khi tất cả các lục địa trên thế giới tập hợp lại với nhau thành một siêu lục địa có tên là Pangea . Pangea dần dần tách ra thành lục địa phía bắc là Laurasia và lục địa phía nam là Gondwana. Vào cuối đại này, các lục địa này đã tách tiếp thành hình dạng gần giống như ngày nay. Laurasia trở thành  Bắc Mỹ và đại lục Á-Âu, trong khi Gondwana tách ra thành Nam Mỹ, châu Phi, Australia và tiểu lục địa Ấn Độ, tiểu lục địa này sau đó va chạm với châu Á để hình thành nên dãy núi Himalaya.

2.4 Nguyên đại Đại Tân Sinh (Cenozoic). Đại Tân Sinh khởi nguyên cách nay 65 triệu năm, bao gồm kỷ thứ ba (ère tertiaire) va kỷ thứ tư (ère quaternaire) trong phân loại xưa kia. Nguyên đại này kỷ Paleogen (thế Paleocen, thế Eocen, thế Oligocen) và kỷ Neogen (thế Miocen, thế Pliocen, thế Pleistocen, thế Holocen). Trong suốt 20 triệu năm của thế Miocen, khí hậu vẫn tiếp tục lạnh, làm rừng cây nhường lại cho các đồng cỏ.

Nguyên đại Cenozoic là kỷ nguyên khi các lục địa chuyển dịch tới vị trí hiện nay của chúng:
·      Từ đại lục Gondwana, Australia-New Guinea tách ra để trôi về phía bắc và cuối cùng tiếp giáp với Đông Nam Á; châu Nam Cực cũng di chuyển tới vị trí hiện nay của nó tại khu vực Nam cực; Đại Tây Dương mở rộng ra và vào giai đoạn cuối của đại này thì Nam Mỹ gắn liền với Bắc Mỹ. Mảng kiến tạo Ấn Độ chạm phải mảng Âu Á tạo ra giãy núi Himalaya. Đây là thời đại các động vật có vú ở trên đất, trên không, dưới biển. 

·        Thực vật hạt kín xuất hiện. Lục địa Phi Châu tiếp xúc với lục địa Âu Á, giúp cho tổ tiên các loài voi hiện nay sống ở Bắc bán cầu và các loài động vật có vú ở Âu Á (con rhino, sư tử, thỏ) sống bên Phi châu. Nhiều loài voi (proboscidien) xuất hiện từ thế Eocen bắt đầu đa dạng hóa trong thế Oligocen: với thời gian, loài voi cao hơn, vòi và ngà dài hơn. Cũng trong thế Oligocen, có loài động vật có vú tên là Hyaenodon săn con Entelodon, một loại heo rừng dài đến 2 mét từ châu Á lan tràn qua Âu châu (Découvertes Junior No 5, năm 1991)..Địa khai cho thấy nhiều loài cây có hoa, và bộ trùng lỗ (foraminifere). 

·        Loài người tiền sử xuất hiện. Cách nay 2 triệu năm là khởi đầu của thế Pleistocen. Lục địa Âu Á bị bao phủ bởi nhiều tảng băng nên chỉ có những động vật chịu lạnh như con mammouth (Siberia), con gấu. Nhiều đợt diệt chủng cuối đời Pleistocen: mammoth, mastodon. Bắc Mỹ trải qua nhiều đợt băng hà (glaciation) trong những 20 000 năm cuối, tạo ra các khung cảnh núi, hồ như ta thấy hiện nay.

Trong suốt nguyên đại Tân Sinh, có nhóm linh trưởng bao gồm loài khỉ và loài vượn. Cuối thời Oligocen có tách rời giữa nhóm ‘khỉ nhỏ ‘ (tổ tiên của các loài khỉ đầu chó babouin và khỉ  macaque ngày nay) và ‘khỉ lớn’(tổ tiên các loài gorila và loài người). Cách nay từ 7 đến 9 triệu năm, những sinh vật đầu tiên có bộ não lớn có mặt ở Đông Phi Châu. Cách nay từ 5 đến 6 triệu năm, nhóm vượn phương nam (australopitheque) và những con người đầu tiên (họ Homo) bắt đầu có mặt cũng tại Đông Phi cuối giai đoạn Miocen, cách nay 2.4 triệu năm .Đó là con người khéo tay (Homo habilis) . Hậu duệ con người này là con người đứng thẳng (Homo erectus) có mặt ở Âu châu và Á châu và bắt đầu biết dùng lửa. Và sau đó là con người thông minh (Homo sapiens)
.
3. Các đại diệt chủng sinh vật trong lịch sử điạ chất
Chúng ta thường nghe nói và nhất là xem phim Jurassic Park thấy những loài khủng long to lớn mà ngày nay không ai thấy nữa vì loài này biến mất : đó là lần diệt chủng thời đại Crétacé-Tertiary, mà quen viết là  diệt chủng K-T. Nhưng còn có các lần khác .Trong khoảng thời gian 540 triệu năm trở lại đây, đã có 5 vụ tuyệt chủng rất lớn

3.1. đại tuyệt chủng đầu tiên là ở  kỷ Ordovic-Silur, cách nay 440 triệu năm, đánh dấu ranh giới giữa hai kỷ Ordovic và kỷ Silur. Nhiều loài bị tuyệt chủng trong khoảng thời gian kéo dài khoảng 500 000 năm với nhiều sinh vật biển , do mực nước biển hạ thấp khi có nhiều băng hà và sau đó với mực nước biển tăng khi băng hà tan . Lúc đó đời sống còn ở đại dương: nhiều loài bộ ba thùy (trilobite), động vật tay cuộn (brachiopod), con bút đá (graptolite), phiêu sinh vật và san hô đã bị mất đi chỉ không đầy 500 000 năm. Trong khoảng thời gian này, đại dương đã có lúc bị hạ xuống do băng hà đông, có lúc nước biển dâng lên do băng hà tan

3.2. đại tuyệt chủng thứ hai, cách nay 365 triệu năm vào cuối  kỷ Devon và đầu kỷ Cacbon với nhiều sinh vật biển. Ba phần tư (3/4) mọi loài sinh vật trên Trái Đất cũng bị mất đi trải qua nhiều đợt liên tiếp trong một khoảng thời gian khá dài có thể lên đến 20 triệu năm. Phần lớn phiêu sinh vật và các hệ sinh thái san hô bị hại nhiều nhất, cũng như các loài bộ ba thùy, động vật tay cuộn và các loài cá cổ. Tiếp theo lại có một thời kỳ dài với sự hồi phục các loài sinh vật biển với nhiều loài lưỡng cư và những loài bò sát đầu tiên bắt đầu xuất hiện.

3.3. đại tuyệt chủng thứ ba, thường có tên diệt chủng PT (Permien-Trias), cách nay 215 triệu năm. Kỷ Trias là kỷ đầu tiên của Đại Trung Sinh (Mesosoic); kỷ Trias kế tiếp kỷ Permi và kế tiếp nó là kỷ Jura. Cả sự mở đầu lẫn sự kết thúc của kỷ Trias đều đưọc đánh dấu bằng các đại tuyệt chủng sinh vật. Thực vậy, đại tuyệt chủng này, cách nay 252 triệu năm, do núi lửa Siberie phun ra, làm chết đến 95% mọi sinh vật từ sâu bọ, động vật có xương sống, loài bò sát. Đây là vụ tuyệt chủng khủng khiếp nhất trong lịch sử sinh học, giết chết 57% số họ và 83% số chi (trong đó có 53% số họ và 84% số chi sinh vật biển). Sự kiện này đã tiêu diệt hoàn toàn khỏi Trái Đất 96% số loài sinh vật biển và 70% số loài sống trên cạn, bao gồm cả động vật có xương sống, côn trùng và thực vật . Nó đã có tác động mạnh mẽ đến quá trình tiến hoá trên Trái Đất và phải cần đến 30 triệu năm để các nhóm sinh vật có xương sống phục hồi số lượng và sự đa dạng. Ở biển, nhóm động vật sống cố định đã giảm từ 67% xuống còn 50% trong tổng số động vật biển.

Giai đoạn Trias là một giai đoạn quan trọng trong sự tiến hoá của Trái Đất: lúc đó, mọi lục điạ còn dính chùm nhau trong một khối duy nhất thường có tên là Pangea.



Bản đồ địa chất giai đoạn Trias
Rồi từ lòng đất lại phun ra những dung nham núi lửa kéo dài nhiều năm làm đại lục Pangea bị tách ra nhiêu mảnh; Đại Tây Dương bắt đầu thành hình. Với lửa phun ra từ lòng đất nên nhiều sinh vật bị chết đi trên cạn đã đành mà còn dưới biển vì  mưa acid do không khí chứa nhiều CO2 nên đại dương bị acid hoá: phiêu sinh vật dưới biển bị mất đi, kéo theo nhiều loài cá cũng bị diệt chủng.


Nhiều loài bò sát khổng lồ như khủng long, xuất hiện lần đầu tiên vào khoảng 230 triệu năm trước, trong kỷ Trias cũng bị tuyệt chủng.  Khí hậu lúc đó khô nóng, thích hợp cho các loài bò sát phát triển. Và phải chờ nhiều triệu năm sau đó, nghĩa là vào kỷ Jura (Jurassic) thì Trái Đất mới phục hồi với loài khủng long (dinosaure); loài khủng long tồn tại khoảng 150 triệu năm. Trái Đất bắt đầu có hình dạng như ngày nay.

3.4 đại tuyệt chủng thứ tư đánh dấu bước chuyển từ kỷ Trias sang kỷ Jura, cách nay quãng 200 triệu năm, là do núi lửa phun, tạo ra nhiều dung nham, khởi đầu từ giữa Đại Tây dương. Chính núi lửa giữa đại dương phun ra làm đại dương này nở rộng ra. Ngày nay, người ta nhận thấy đá phún xuất ở hai bờ Đại Tây dương, từ Đông Bresil, Đông Hoa Kỳ, Bắc Phi, Espagne. Bằng chứng cụ thể nhất là miền Bắc Quebec có miệng núi lửa Manicouagan có đường kính dài đến 180km. Dung nham núi lửa bao phủ một vùng rộng lớn quãng 2 triệu km2 trên một độ dày trên 3 km, bao phủ bầu trời và suốt một quãng thời gian đến 10 000 năm, khí Co2 do núi lửa phun ra làm nhiệt độ Trái Đất cao hơn, kéo theo diệt chủng sinh vật. Đại dương cũng nóng lên nên nhiều sinh vật biển bị chết đi. Trên mặt đất, nhiều sinh vật thuộc nhóm bò sát cổ ngoài trừ khủng long đều tuyệt chủng. 


3.5. đại diệt chủng thứ năm được nhiều người nói đến, biết đến dưới danh xưng là tuyệt chủng K-T ( còn gọi là tuyệt chủng K-Pg, Cretacé-Paleogen)  tức cuối thời kỳ Crétacé (Phấn kỷ) và đầu  kỷ thứ ba (Tertiaire) , cách nay 65 triệu năm, do thiên thạch va chạm, do phun trào basalt tại vùng cao nguyên Deccan ở Ấn Độ ngày nay đã tiêu diệt hầu hết các loài khủng long vốn là kẻ thống trị trên Trái Đất trong một thời gian rất dài và mở ra cơ hội bước lên vũ đài lịch sử cho các loài động vật có vú, trong đó có con người. Phun trào basalt nên có nhiều khí núi lửa, nhất là SO2, cũng làm biến đổi khí hậu.
Tuyệt chủng K-T là một vụ tuyệt chủng không đồng đều. Có những sinh vật bị tuyệt chủng hoàn toàn, một số khác chịu những ảnh hưởng nặng nề và một số lại hầu như không bị ảnh hưởng đáng kể.



3.6  đại diệt chủng lần thứ sáu
Trước kia, chúng ta chỉ biết đến 5 giai đoạn tuyệt chủng nói trên, xảy ra ở các thời điểm cách nay 443, 359, 251, 200 và 65 triệu năm trước, nhưng ngày nay, với loài người sinh sôi nẩy nở trên Trái Đất này, nhiều động vật cũng như thực vật cũng có nguy cơ bị tuyệt chủng. Thường gọi tên là tuyệt chủng Holocen, từ khoảng 10 000 năm trước Công Nguyên, bao gồm động vật có vú, chim, lưỡng cư, bò sát và động vật chân đốt. Sự bùng nổ dân số loài người kéo theo sự biến đổi khí hậu làm nhiều loài thú hoang không nơi trú ẩn. Săn bắn lậu loài voi và loài tê giác bên Phi Châu để lấy ngà voi, sừng tê giác v.v làm quần thể các động vật này giảm sút. Phá rừng cũng làm nhiều thực vật tuyệt chủng. Tàn phá đại dương với đánh bắt cá quá mức sinh sản và ô nhiễm cũng làm tài nguyên sinh vật dưới nước giảm sút. Tục ngữ ta có câu: Nhất phá sơn lâm, nhì đâm Hà Bá. Nền nông nghiệp sử dụng quá nhiều hóa chất đã giết chết nhiều loài côn trùng. Rừng rú nhường chỗ cho đô thị phố xá, cho nông nghiệp vì dân số tăng lên. Thú hoang không nơi ẩn trú và từ từ bị tiêu diệt.

3. Kết luận
Giản đồ sau đây cho thấy có 5 nguyên nhân chính của sự giảm đa dạng sinh học: cư trú thay đổi, lạm thác tài nguyên, ô nhiễm, biến đổi khí hậu, loài lạ xâm lấn; các nguyên nhân này có tác động hổ tương lên nhau.
Động vật hoang dã giảm hơn phân nửa do săn bắn, do phá rừng nên muông thú không có chỗ trú ẩn. Số lượng cá voi và sinh vật biển giảm nghiêm trọng do đánh bắt quá mức sinh sản. Phá rừng, dân số tăng nhanh, biến đổi khí hậu, ô nhiễm toàn là những vấn đề nhức nhối mà nhân loại phải có can đảm đối phó .
                                                                              
Thái Công Tụng