Chiến dịch „Vườn cây trái“

vuon cay trai 3

Chiến dịch „Vườn cây trái“

Erich Follath và Holger Stark (Der Spiegel 45/2009).
Phạm Hồng-Lam lược dịch.

Cuối tháng 6.2015 này năm quốc gia trong Hội Đồng Bảo An LHQ và nước Đức sẽ kí với Iran một hiệp ước, qua đó Iran sẽ phải giới hạn việc phát triển khả năng nguyên tử và chấp nhận cho quốc tế tới kiểm soát các nhà máy nguyên tử của mình. Đối lại, Hoa-kì và tây phương sẽ dỡ bỏ lệnh cấm vận. Như vậy, cuộc đàm phán gay go nhất thế giới  từ 10 năm nay sẽ được chấm dứt.
Câu chuyện sau đây, một cách nào đó, cũng có liên hệ với chuyện nguyên tử của Iran.
Tháng 9 năm 2007 các chiến đấu cơ do-thái đã đánh bom một toà nhà bí mật trong sa mạc nước Siri. Sự việc có thể đã tạo ra một cuộc chiến tranh lớn, nhưng đã được dấu bặt bởi cả hai phía. Toà nhà phải chăng là một nhà máy nguyên tử mới xây? Ai đã ra lệnh phá?

Giòng sông Euphrat xanh lam lững lờ trôi qua thị trấn Deir al-Sor (“Tu viện giữa rừng”). Nông dân làm lụng trên những cánh đồng. Chăn lông lạc đà, đậu và các loại rau thơm được bày bán trên các sạp chợ. Thỉnh thoảng có những đoàn khảo cổ ghé thị trấn này để kiếm tìm những dấu tích còn lại của các thành phố cổ; nhiều sắc dân còn để lại dấu vết nơi đây, như dân Parther, Sassanid, Rôma, Do-thái, Osman và các ông bà bảo hộ Pháp, mới rút đi từ 1946. Deir al-Sor là lối ra cuối cùng trước khi đi vào sa mạc mênh mông, không người ở, với những núi đồi đầy vết nứt, những hang động không lối vào. Vùng đất chết.
Nhưng vào một đêm hai năm trước đây – người ta xầm xì với nhau bên bàn điếu cày, sau khi nhìn trước nhìn sau không thấy bóng một sĩ quan quân đội hay công an nào cả, vì ai cũng hiểu rằng, ăn nói không giữ gìn trên đất nước này có thể mang hoạ vào thân – đã xẩy ra một chuyện động trời.
Dân Deir al-Sor bảo, họ thấy một tia chớp sáng rực lên nơi sa mạc phía xa. Người khác cho hay, họ thấy một cột khói khổng lồ nổi lên như ngón tay trỏ đe doạ bên giòng Euphrat. Đoán già đoán non. Các cụ gìa ngồi trong quán ăn Dschisr al-kabir gần Cầu Lớn thì lại bảo đó là một dấu hiệu từ trời gởi xuống.
Chuyện gì đã thật sự xẩy ra trong đêm? Nhiều huyền thoại đã được dân địa phương thêu dệt. Nhưng thế giới tây phương với các loại máy dò hiện đại, với những phương tiện truyền thông tân tiến cũng chẳng biết gì hơn. Sự việc xẩy ra trong đêm mùng 6 tháng 9 năm 2007 nơi sa mạc cách thị trấn Deir al-Sor 130 cây số là một trong những bí mật gay cấn nhất của lịch sử hiện đại.
Chiều hôm đó, lúc 14 giờ 55, hãng thông tấn Sana ở Damaskus (Siri) loan tin: chiến đấu cơ do-thái “đã xâm phạm không phận Siri vào khoảng lúc một giờ đêm”, chúng tiến vào từ phía biển Địa Trung. “Không quân của ta đã buộc chúng phải quay trở lại, sau khi chúng thả một vài trái bom xuống vùng sa mạc, mà chẳng gây ra thiệt hại nhân mạng và vật chất nào”. Mãi tới hơn nửa ngày sau mà sự kiện vẫn không được thông tấn thông báo rõ ràng gì thêm. Tới 18 giờ 46, người phát ngôn quân sự của Do-thái cho hay: “Bản tin của Sana hoàn toàn vô căn cứ”.
Siri và Israel, hai nước nằm trong tình trạng thù địch và chiến tranh với nhau kể từ ngày lập quốc Do-thái năm 1948 tới nay, đã hãm mình giữ kín câu chuyện – cho tới nay. Nhưng với thời gian, sự việc cũng được lần hồi sáng tỏ. Không phải phi đội do-thái đêm đó thả mấy trái bom xuống vùng đất trống trong sa mạc, nhưng đã san bình địa một tòa nhà lớn bí mật của Siri.
Phải chăng đó là một lò nguyên tử sắp hoàn thành? Trong toà nhà bí mật đó có chuyên viên nguyên tử Bắc Hàn, mà cũng có thể có cả chuyên viên nguyên tử của Iran nữa, làm việc? Khi nào thì Israel biết được sự hiện diện của toà nhà và tại sao họ lại liều lĩnh thực hiện một cuộc oanh tạc kín đáo như vậy? Có phải đấy là lời cảnh cáo nhắm tới Iran, hãy xem đó, nếu không chịu bỏ chương trình nguyên tử thì cũng sẽ mang hậu quả như thế?
Tuần báo chính trị Spiegel ở Đức trong mấy tháng qua đã cố tìm hiểu bí mật trong sa mạc đó. Các kí giả đã nói chuyện với những nhà chính trị và chuyên viên quan trọng nhất như tổng thống Siri là Baschar al-Assad, chuyên viên tình báo hàng đầu của Do-thái Ronen Bergman, với giám đốc cơ quan kiểm soát nguyên tử của Liên Hiệp Quốc Mohamed El-Baradei, với David Albright, chuyên viên nguyên tử nhiều ảnh hưởng ở Mĩ. Họ cũng đã tiếp chuyện được với những người trong cuộc, giờ đây những người này được phép thố lộ một số chi tiết, nhưng xin vẫn giữ kín danh tính. Những mảnh kiến thức góp nhặt, tuy chưa giải đáp được hết mọi bí ẩn, nhưng cũng tạm đủ để mô tả nét chính những gì đã xẩy ra.

Tel Aviv, dẫy nhà kín đáo núp dưới những tàng cây khuynh diệp: tổng hành dinh cơ quan tình báo hải ngoại Mossad của Israel, cuối 2001. Trong khuôn vườn nhỏ có dựng tấm bia cẩm thạch màu xám tưởng niệm những người đã bỏ mình đang khi thi hành công tác trên đất địch, tổng số đã 400, nhưng tấm đá vẫn còn nhiều chỗ để khắc thêm tên. Bên trong dẫy nhà chính, các phân tích gia tình báo do-thái đang cùng nhau tìm hiểu về con người của vị tân tổng thống Siri.
Tháng bảy năm ngoái, Baschar al-Assad lên ghế tổng thống thay cha vừa mới mất. Ông này nguyên là một bác sĩ về mắt, 34 tuổi, chưa có kinh nghiệm chính trị, từng sống nhiều năm ở London. Do-thái xem Baschar al-Assad là một lãnh tụ non yếu. Nhưng Baschar lại khó chơi, vì tâm tính dễ thay đổi, không như cha của ông là Hafis al-Assad, người rất thực dụng và từng được coi là “Sư tử” của vùng trung đông. Ông này, trước khi chết, đã tính làm một cuộc đổi chác lớn với Do-thái để lấy lại phần đất Golan đang bị Do-thái chiếm đóng.
Israel nhận định: Assad con đang cố tạo thanh thế và uy tín, bằng cách giúp ồ ạt vũ khí cho nhóm dân quân Hisbolla ở Libanon. Hisbolla được Iran hỗ trợ và khuyến khích bạo động chống lại “bọn do-thái cướp đất”. Assad tiếp đón nhiều đoàn quan khách cấp cao từ Bắc Hàn. Mossad nắm chắc đấy là những cuộc thảo luận với mục đích tiếp tục vũ trang cho Siri. Bình-nhưỡng trước đây cũng đã giúp Damaskus chế hoả tiễn tầm trung và các vũ khí hơi độc như Sarin hoặc mù-tạt. Quân báo do-thái cho biết hai bên đang nói chuyện về một kế hoạch nguyên tử. Nhưng tình báo hải ngoại Mossad không tin chuyện này.
Một nhà máy chế bom nguyên tử ngay trước mũi Do-thái? Ai có thể tin được một toan tính liều lĩnh như thế!
Lại nữa: đầu thập niên 90, Assad cha đã lắc đầu khước từ món hàng của Abdul Kadir Khan, “cha đẻ bom nguyên tử” của Pakistan, khi ông này kín đáo chào hàng các máy li tâm để biến chế Uran. Ngoài ra Do-thái cũng thừa hiểu sự tốn kém và tiến trình phức tạp của việc chế bom nguyên tử, vì trong thập niên 60, họ cũng đã qua mặt thế giới mua Uran cho phòng thí nghiệm bí mật của họ ở Dimona chế bom nguyên tử. Để cản Sadam Hussein (Irak) làm theo, vào một đêm tháng 6 năm 1981, Do-thái đã bất chấp luật quốc tế cho máy bay phản lực F-16 tiến vào không phận Irak và phá bình địa nhà máy nguyên tử Osirad gần Bagdad.
Do-thái dùng phương pháp châm chích để thử lửa Assad con,. Năm 2003, họ nhiều lần cho thả bom những đồn bót Siri gần biên giới; tháng 10 năm đó, máy bay do-thái cố tình bay ngang qua ngay dinh tổng thống Assad: một hành động cao ngạo, khiến ngay cả nhiều nhân viên Mossad cũng lắc đầu: không biết rồi anh chàng bị nhục đó sẽ phản ứng ra sao?
Có lẽ công trình ở Euphrat được bắt đầu xây dựng đâu đó trong thời gian trước sau 2003. Vào đầu năm 2004, tình báo hoa-kì NSA ghi nhận có độ đặc điện đàm khả nghi giữa Siri và Bắc Hàn, các cuộc điện đàm đặc biệt xuất phát từ vùng sa mạc al-Kibar tới Bình-nhưỡng. Tin tức này được chuyển cho cơ quan quân báo chuyên phân tích điện đàm “8200” của Do-thái và họ đã, nói theo ngôn ngữ tình báo, “cắm cờ” vùng sa mạc al-Kibar.
Cuối 2006 quân báo do-thái quyết định thỉnh í tình báo Anh về í nghĩa của công trình ở Euphrat. Nhưng sự thể chưa có gì rõ ràng cả. Gần như cùng lúc phái đoàn do-thái sang Anh, một công chức cao cấp của chính quyền Siri cũng sang nước này và ngụ tại một khách sạn trong khu sang trọng Kensington. Ông này đang bị Mossad theo dõi. Và ông đã hành động lơ là một cách khó có thể tin được. Ông để lại chiếc vi tính của mình trong phòng khách sạn. Mossad đã nhân cơ hội cho vào máy một chương trình đánh cắp dữ kiện.
Trong máy chứa nhiều đồ án xây dựng, nhiều thư từ và hàng trăm bức hình. Các hình ảnh cho thấy cơ ngơi ở al-Kibar trong từng giai đoạn xây dựng. Có lẽ nó được bắt đầu xây vào năm 2002 – các hình ảnh không ghi thời điểm. Lúc đầu, công trình giống như một toà nhà chứa cây nhiều từng, với nhiều đường ống khả nghi dẫn tới một trạm bơm gần sông Euphrat. Về sau, nhiều cột bê-tông được dựng lên với nhiều mái che; các mái che chỉ có một mục đích là đánh lạc hướng hình chụp từ trên không xuống. Rốt cuộc, toà nhà xem ra giống như một hộp chứa giày, mặt trên có hơi vung lên một chút. Nhưng bên trong là lò nguyên tử.
Một tấm hình cho thấy có hai người, một người á châu bận quần thể thao màu xanh đứng bên một ông ả-rập. Mossad nhận diện ra ngay: Chon Chibu và Ibrahim Uthman. Chon là một trong những chuyên viên nguyên tử hàng đầu của Bắc Hàn, có thể là kĩ sư trưởng của nhà máy Plutonium ở Yongbyon; Uthman là chủ tịch Uỷ ban nguyên tử năng của Siri.
Không những quân báo Israel, mà cả cục tình báo hải ngoại Mossad giờ đây báo động đỏ: Thủ tướng Ehud Olmert được thông báo tin. “Lò sắp sửa đi vào hoạt động hay chưa? Cần hành động ngay chưa?” ông hỏi. Chưa rõ. Thủ tướng cần thêm tin chính xác, tốt nhất từ nguồn trực tiếp.

Istanbul (Thổ-nhĩ-kì), căn “nhà an toàn” của Mĩ, nơi chăm sóc và “vắt nước” những người hồi chánh cao cấp, tháng hai 2007. CIA và Mossad bắt được một chú cá mập hiếm có: Ali Resa Asgari, 63 tuổi. Trong thập niên 80, Asgari là chỉ huy trưởng Đội Phòng vệ Cách mạng ở Libanon. Giữa thập niên 90 làm thứ trưởng quốc phòng Iran, dưới thời tổng thống cởi mở Mohammed Chatami. Sau khi diều hâu Mahmud Ahmaddinedschad được bầu lên tổng thống năm 2005, ông bị thất sủng. Vì ông thẳng thừng tố cáo một số người chung quanh Ahmadinedschad tham nhũng, nên mạng sống của ông bị đe doạ.
CIA bảo rằng, cuộc vượt thoát của Asgari do họ tổ chức kéo dài nhiều tháng và rất công phu. Nhưng Amir Farschad Ebrahimi, cựu tuỳ viên báo chí của Iran ở Beirut, quen biết Asgari từ nhiều năm và đã tị nạn sang Berlin năm 2003, cho Spiegel hay, Asgari đã hai lần liên lạc với ông về í muốn tị nạn trong những tháng cuối năm 2006, lần đầu từ Iran và lần thứ hai từ Damaskus. Thông qua một tổ chức đưa người, Asgari đã vượt qua được biên giới thổ-nhĩ kì vào một đêm tối. Chính tại Istanbul, Ebrahimi đã thông tri cho CIA và “chuyển giao” bạn mình cho Hoa-kì.
Từ đây, các nguồn tin lại ăn khớp nhau trở lại: Asgari nói năng như thác đổ. Đúng là một mỏ vàng cho CIA và Mossad. Tình báo mĩ và do-thái mở tròn mắt, khi Asgari cho hay, ngoài lò nguyên tử đã biết ở Natans, Iran đang xây thêm một lò bí mật. Ngoài ra, Iran đang bỏ tiền để cùng với Bắc Hàn chung tay dựng một lò nguyên tử tuyệt mật ở Siri, nhưng địa điểm chính xác ở đâu thì ông không biết.
Sau ít ngày, Asgari được chuyển tới trung tâm quân sự hoa-kì ở Đức, rồi sang Mĩ. Sau đó, Ebrahim có nhận được tin của Asgari hai lần, một lần ở Washington, một lần “đâu đó ở Texas”, ông nhờ Ebrahim nhắn với vợ là ông vẫn bình an. Và rồi biệt tăm tin tức. Chính quyền hoa-kì đã tạo cho Asgari một hiện hữu mới. Ali Resa Asgari không còn trên đời này nữa. Trong khi đó, Iran loan tin, Asgari bị Mossad bắt cóc và có thể đã bị giết.
Tin tức được chuyển đều đặn tới thủ tướng Olmert. Tháng 3.2007, Olmert mời ba chuyên viên cao cấp của giới chính trị, quân sự và tình báo tới giúp ông í kiến về chương trình nguyên tử của Siri. Ông bắt họ thề tuyệt đối giữ bí mật. Ông cần có những kết quả. Ông muốn tìm cách lôi Hoa-kì về phía mình. Nếu không, chỉ cần Mĩ im lặng đồng í để cho phản lực cơ của ông bay qua gần căn cứ của Nato ở Thổ.
Tháng 8, tướng Jaakov Admiror, phát ngôn viên của nhóm ba người được mời, gởi phúc trình cho thủ tướng, trong đó cho hay Mossad còn chần chừ về các tin tức về al-Kibar, riêng nhóm của ông đồng í hành động, vì theo họ, al-Kibar là một đe doạ cho quốc gia do-thái. Nhóm này đưa ra bằng chứng có sự cộng tác giữa Siri và Bắc Hàn, và cả Iran nữa: Mohsen Fachrisade Mahabadi, đứng đầu chương trình bí mật “111” về võ trang tên lửa mang đầu đạn nguyên tử của Iran thăm Damaskus năm 2005. Tổng thống Ahmadinedschad thăm Siri năm 2006, hình như trong chuyến thăm này, ông đã hứa giúp Siri 1 tỉ mĩ kim để gấp rút hoàn thành chương trình.
Al-Kibar có thể là một “trung tâm thay thế” cho lò nước nặng của Iran đang xây ở Arak. Nếu việc chế bom theo quy trình ở Arak không thành thì sẽ dùng quy trình của al-Kibar.
Thủ tướng Olmert chấp nhận một kế hoạch đầy nguy hiểm: Mở chiến dịch tìm dấu vết trên đất địch. Trong một đêm tối trời và đầy mây tháng 8.2007, hai chiếc trực thăng chở các toán biệt kích băng biên giới Siri, bay là đà trên mặt đất trực chỉ al-Kibar. Họ mang theo máy dò và cố lấy cho được những mẫu đất trong vùng để nghiên cứu. Nhưng chiến dịch đã phải chấm dứt sớm hơn dự tính, vì bị phát giác. Kết qủa các mẫu đất lấy được chưa cụ thể lắm, nhưng phe hành động quả quyết, chừng đó đã đủ minh chứng cho sự có mặt của chương trình nguyên tử rồi.
Tướng Amidror nhận ra những dấu hiệu cho thấy việc xây al-Kibar đang được gấp rút tiến hành. Ông kể, trên chiếc tàu mang tên “Gregorio” khởi hành từ Bắc Hàn tháng 9.2006, bị chận ở đảo quốc Zyper, có chở theo những ống kim loại khả nghi cho Siri. Đầu tháng 9.2007, tàu hàng “al-Ahmad” xuất phát từ Bình-nhưỡng cập bến Tartus ở Siri, theo Mossad cho biết, có mang theo một kiện hàng Uran.
Thủ tướng Olmert nhất quyết hành động, dù thế giới lúc đó đang ở trong tình trạng căng thẳng với khủng hoảng ở Irắc và cuộc chiến trên giải Gaza. Olmert thông báo cho Stephen Hardley, cố vấn an ninh quốc gia của tống thống Hoa-kì hay về quyết định của mình, rồi ra lệnh cho ban tham mưu toàn quyền hành động. Chiến dịch “Vườn cây trái” (“Orchard”) mở màn.

Căn cứ không quân Ramat David, phía nam Haifa, ngày 5 tháng 9 năm 2007. Phi đội 69 “Raam” (“Sấm”) gồm mười chiếc oanh tạc cơ loại F-15I được lệnh rời phi đạo lúc 23 giờ (xem hình 1). Một cuộc thao dượt khẩn cấp bình thường. Tất cả lấy hướng tây, bay ra biển (2) . Sau nửa giờ bay, ba chiếc được lệnh trở về, bảy chiếc còn lại đổi hướng, hạ thấp cao độ, tiến vào biên giới Siri. Ở đây, họ dùng tên lửa điều khiển bằng điện tử dập tắt một đài ra-đa (3), rồi bay tiếp thêm 18 phút nữa tới không phận al-Kibar (4). Toạ độ nhà máy al-Kibar đã được chấm từ trước trong máy vi tính của phi cơ. Bom 500 kí đã phá huỷ trong chớp nhoáng toàn bộ công xưởng. Mọi diễn tiến đều được quay phim để thẩm định…
vuon cay trai 0
Vừa khi nhận được tin “mục tiêu đã bị phá huỷ”, thủ tướng Olmert liền gọi điện cho thủ tướng Thổ-nhĩ kì Recep Tayyip Erdogan để trình bày sự việc. Ông yêu cầu Erdogan thông báo cho Assad ở Damaskus hay rằng, Israel không thể chấp nhận một lò nguyên tử mới; rằng ngoài việc phá huỷ al-Kibar, Israel không dự tính một kế hoạch quân sự nào thêm cả; rằng Israel không muốn làm to chuyện và vẫn muốn tiếp tục bàn chuyện hoà bình với Damaskus; rằng nếu Assad không làm lớn chuyện thì Israel cũng sẽ lặng lẽ cho qua.
Và như thế, câu chuyện xẩy ra trong vùng sa mạc al-Kibar rơi vào im lặng bí ẩn. Nhưng nó đã không chìm đi trong hư vô, vì rồi đây người này sẽ dần mang nó ra ánh sáng, người khác thì tìm cách trả thù.
vuon cay trai 1
Washington D.C, “Viện nguyên tử” nằm cách Toà bạch ốc khoảng một cây số; một Viện độc lập, nhưng lại quan trọng hơn nhiều Bộ của chính quyền Mĩ. Cuối tháng 10.2007. Chủ Viện là David Albright, 58 tuổi, tốt nghiệp ngành vật lí, đã một thời là chuyên viên kiểm tra vũ khí của Liên hiệp quốc ở Irắc. Albright không những đã biến Viện của mình thành một cơ quan nghiên cứu và cố vấn lên hàng đầu, mà í kiến của ông về lãnh vực nghiên cứu nguyên tử cũng trở nên có một không hai ở Mĩ.
Sau khi nghe tin về vụ thả bom ở al-Kibar, suốt bốn tuần lễ Albright và đồng viện đã nghiên cứu các bức hình do vệ tinh chụp vùng al-Kibar. Họ lục lọi trên màn ảnh cả một diện tích 25 ngàn cây số vuông – và họ đã tìm ra được toà nhà bị đánh bom.
Tháng 4.2008, CIA bất ngờ mời Albright tới trao đổi. Họ đưa cho Albright xem lô hình về công trình al-Kibar mà Mossad đã lấy được từ máy vi tính của công chức Siri. Albright so sánh từng chặng phát triển của toà nhà. Ông nắm vững các chi tiết máy móc và xây dựng của lò hạch nhân Yongbyon, Bắc Hàn. “Không còn nghi ngờ gì nữa, cấu trúc ở Siri đúng là một lò nguyên tử”, Albright khẳng định.
Tại sao CIA lại hỏi í kiến ông? Albright nghĩ có lẽ là do hậu quả thất bại của họ trong vụ Irắc, nên giờ đây họ muốn có sự chắc chắn. Nhưng al-Kibar lấy Uran từ đâu để hoạt động? Phải chăng ngoài Bắc Hàn ra, cò có sự nhúng tay của Iran? Và toà nhà ở al-Kibar là một công trình mới xây hay đã có từ lâu và mới được sửa thêm?

Wien, đường Wagramer, nơi đặt văn phòng điều tra nguyên tử của Cơ quan nguyên tử năng quốc tế (IAEA). 150 trong số 192 nước trên thế giới hiện là thành viên của IAEA và hầu hết trong số thành viên này đều đã kí tên vào hiệp ước chống phát triển và phổ biến vũ khí nguyên tử. Theo đó, những thành viên nào đã có nguyên tử rồi thì không được chế thêm, trái lại phải tìm cách giảm bớt; còn những ai chưa có thì không được chế. Ba nước không kí: Israel, Pakistan, Ấn-độ, cả ba đều có vũ khí nguyên tử.
Những nước thành viên, chẳng hạn như Siri và Iran, đều có quyền được LHQ hỗ trợ trong việc sử dụng nguyên tử năng cho mục đích hoà bình. Đối lại, họ phải để cho IAEA tự do đến điều tra. IAEA có 2200 nhân viên với ngân khoản gần 300 triệu đô-la mỗi năm. Tổng giám đốc là Mohamed ElBaradei, 67 tuổi, giải Nobel hoà bình năm 2005, đã thở dài khi nói chuyện với Spiegel vào tháng 5.2009. Ông phàn nàn, nhiều khi nhìn lại, ông thấy công việc của mình như công dã tràng. Số là ông luôn gặp phải sự thiếu thiện chí của một số nước. Trước đây, Libi và hiện nay Bắc Hàn, Iran là những nước có vấn đề. Giờ như vậy lại thêm Siri. Câu chuyện al-Kibar như một cú sốc đối với ông.
Ông nói: “Israel đã hành động ngược lại luật pháp quốc tế. Lẽ ra, khi biết có lò nguyên tử bất hợp pháp, họ phải báo cho chúng tôi”..”Giờ chuyện đã rồi, làm sao chúng tôi có thể tìm được dấu vết trong đống tro tàn!”.
Tháng 6.2008, nhóm chuyên viên IAEA tới al-Kibar điều tra. Sau bao nhiêu khó khăn, cuối cùng IAEA đã được phép tới đó. Siri bảo đó là một nhà máy vũ khí quy ước, không cần phải khai báo cho ai cả. Họ đã cho dọn sạch dấu vết và trám xi-măng toàn bộ mặt bằng. Nhóm điều tra đã lấy mẫu đất và những mảnh ống kim loại còn lại cẩn thận mang về phòng thí nghiệm ở Wien. Kết qủa cho thấy rõ ràng có sự hiện diện của chất phóng xạ Uran. Siri bảo, chất xạ đó là do bom do-thái tạo ra. Một lí chứng được IAEA coi là “ít khả năng xẩy ra”.
Trong phúc trình mới nhất tháng 6.2009, IAEA đòi buộc Siri phải cho họ kiểm tra thêm hai nhà máy có liên hệ với al-Kibar, vì “các dấu hiệu và các khả năng chứa nước lạnh của hai nhà máy đó rất giống với lò nguyên tử”. Nhưng Siri “đã không cung cấp cho chúng tôi những sáng tỏ, như chúng tôi đòi hỏi”, El Baradei bực dọc nói. Nhưng ông cũng hi vọng rồi ra Siri sẽ để cho nhân viên của ông tới kiểm tra.
Chúng tôi tìm đến vị tướng vui vẻ Mohamed Sulaiman, 49 tuổi, người thân tín của tổng thống Assad và có trách nhiệm về mọi “vấn đề an ninh nhạy cảm” của quốc gia. Nhưng ông không còn có thể tiếp đón chúng tôi. Tên ông hiện nằm trong danh sách ưu tiên theo dõi của Israel. Cũng như tên của Imad Mughnija, 46 tuổi, chỉ huy trưởng Hisbolla ở Siri. Israel coi danh xưng Mughnija đồng nghĩa với khủng bố. Mà còn hơn thế, ông được xem là kẻ chủ mưu của những vụ khủng bố ở Trung Đông: đánh bom cơ quan trung ương của Mĩ ở Beirut trong thập niên 80, đánh bom các cơ sở Israel ở Argentin trong thập niên 90, làm cho hàng trăm dân bị chết. Ông cũng là “cha đẻ của phương pháp ôm bom tự sát” và là người cắm rễ trong bộ máy quyền lực của Iran.
Giờ đây, Mossad được tin, Mughnija đang có kế hoạch trả thù al-Kibar – có thể đó sẽ là những cuộc tấn công vào toà đại sứ do-thái ở Baku, Kairo hay Amman.

Damaskus, toà nhà của Uỷ ban nguyên tử năng (AECS) của Siri nằm trong khu ngoại giao Kafar Sussa. Khách muốn thăm, chỉ có hai cách: hoặc viết thư về địa chỉ “Hộp thư 6091” hoặc gởi thư điện tử về atomic@aec.org.sy. Nhưng thư chẳng bao giờ được trả lời. Chẳng ai lạ, là vì người ta ngờ rằng trong đó đang có kế hoạch về một chương trình nguyên tử bí mật.
Chính trong khu này, đêm 12.02.2008, Mughnija, với biệt danh “cáo già” để chiếc xe Mitsubishi Pajero mới của mình đậu ở đó, trong lúc ông tới dự buổi gặp gỡ tại toà đại sứ Iran gần bên. Mughnija là người của bóng tối, hiếm khi xuất hiện công khai, nhưng lần này ông được tân đại sứ Iran Ahmed Mussawi mời. Trong số khách mời có hai người bạn của ông là Chalid Maschaal, chủ tịch đảng Hamas và tướng Sulaiman, mà ông quen qua nhiều lần gặp gỡ ở Iran hoặc trong tổng hành dinh Hisbolla ở Libanon.
10 giờ 30 đêm, Mughnija uống li nước cam vắt cuối, rồi hôn lên hai má chủ nhà theo phong tục quốc gia để từ biệt. Cựu nhân viên CIA Robert Baer cho hay “Mughnija có lẽ là đối thủ có khả năng nhất mà chúng tôi phải đối phó”, Baer cũng là người theo dõi Mughnija trong một thời gian dài. Còn Mughnija, ông cũng biết tên mình đứng đầu sổ trong danh sách của Mossad. Đầu của ông được FBI treo giá 5 triệu đô-la.
Tiếng nổ phá tan chiếc xe, thân thể Mughnija bị xé nát, ông chết ngay. Sức công phá có lẽ đã được điều chỉnh để không gây thiệt hại cho những toà nhà chung quanh. Chỉ có mỗi một Mughnija tử thương mà thôi.
Ai giết Mughnija? Một ngày sau, phát ngôn viên của bộ ngoại giao Mĩ Sean McCormack cho hay, “thế giới sẽ tốt đẹp hơn nếu không có người đó”. Hisbolla gọi Mughnija là “kẻ tử đạo” và quyết trả thù bọn “Cướp đất”. Họ biết Israel là thủ phạm, nhưng Israel không cải chính mà cũng chẳng công nhận. Nhưng trong nội bộ Mossad thì kiêu hãnh ra mặt. Tình báo viên Usi Mahnaimi được phép tiết lộ, tình báo do-thái đã chế bộ phận gối đầu của chiếc ghế nơi tài xế ngồi và đã đặt vào trong đó một hợp chất chỉ cần đụng tới là nổ.

Tartus, trung tâm chính của dòng Hiệp sĩ Đền thờ thời trung cổ, bên bờ Địa trung hải thuộc lãnh thổ Siri, năm tháng sau. Cảng Tartus cách Damaskus 160 cây số hướng tây bắc, nơi đây con tàu bí mật “Hamed” từ Bắc Hàn đã một lần giao hàng “Xi-măng” khả nghi. Ở đây, cách bức tường cổ thành chừng 13 cây số về hướng bắc, tướng Sulaiman sở hữu một nhà nghỉ cuối tuần nằm ven biển. Vào mùa hè, gần như ông về đây mỗi thứ sáu để đọc tài liệu, nghỉ ngơi và tắm biển. Ngày cuối tuần tháng tám đầu tiên năm 2008 lần đó có lẽ ông phải đưa về nhiều tài liệu để đọc, vì sắp tới đây ông sẽ cùng tổng thống Assad bí mật bay sang thăm Iran.
Luôn luôn Sulaiman di chuyển bằng xe con bọc thép từ Damaskus về Tartus. Một số vệ sĩ khác đã chờ sẵn ở nhà nghỉ. Họ không bao giờ để ông một mình, ngay cả khi ông bơi dưới nước. Sau cái chết của Mughnija, vị công bộc cao nhất đặc trách nguyên tử của quốc gia lại càng phải được bảo vệ cẩn mật.
Sáng hôm đó biển lặng. Du thuyền qua lại ven bờ, không chút khả nghi. Cũng có những chiếc thuyền lại qua để chở du khách ra các nhà hàng trên hòn đảo ngoài khơi. Một du thuyền thanh lịch tiến lại gần bờ, cách khoảng 50 mét, chưa quá gần để các vệ sĩ phải lo lắng, khi chủ họ chuẩn bị nhảy xuống tắm.
Không ai nghe tiếng súng, nhưng chắc chắn những viên đạn đến từ phía dưới nước. Đạn trúng ngực, cổ và đầu, khiến Sulaiman chết tức khắc, trước con mắt ngơ ngác của các cận vệ. Du thuyền đổi hướng, phóng nhanh ra vùng biển quốc tế, mất tăm. Damaskus lặng thinh. Mấy ngày sau đài phát thanh cho hay: “Tướng Sulaiman bị bắn chết, xác ông được tìm thấy ở Tartus”. Không một chữ về du thuyền lạ, không một chữ về vết thương. Im lặng của Damaskus khiến người ngoài nghi đó là một vụ thanh toán nội bộ, vì vị thế của Sulaiman đã quá lớn trong bộ máy chính quyền. Phía chống Assad thì cho rằng ông này đã giết Sulaiman vì giận vụ thả bom al-Kibar và vụ ám sát Mughnija nhục nhã. Nhưng những người am hiểu tình hình đều cho rằng có bàn tay Israel trong vụ ám sát chuyên nghiệp đó.
Những cuộc thả bom và ám sát các tay khủng bố thật tình hay chỉ mới hồ nghi sẽ giúp cho tình hình trung đông tốt hơn? Phải chăng Israel và Ả-rập chỉ biết có ngôn ngữ bạo lực, như Israel vẫn khẳng định? Cuộc đánh bom vi phạm luật quốc tế ở al-Kibar sẽ làm cho Assad “tỉnh trí” hay sẽ khiến cho quyền lực của ông thêm vững mạnh?
Và tất cả những điều trên có í nghĩa gì đối với quả bom nguyên tử có thể sắp có của Iran?

Chiến dịch “Vườn cây trái” và những hậu quả – một tổng kết. Giữa tháng 1.2009, trong cuộc trao đổi với Spiegel, tổng thống Assad khẳng định, al-Kibar là một nhà máy vũ khí quy ước. “Chúng tôi đã có thể đánh lại, nhưng làm như vậy là chúng tôi rơi vào bẩy của Do-thái”. Còn dấu vết phóng xạ? “Có lẽ do Israel thả xuống để đánh lạc hướng”. Tổng thống cho hay, Damaskus không muốn có bom nguyên tử, và Iran hẳn cũng không muốn chế tạo nó. “Siri chống lại việc chế bom nguyên tử. Chúng tôi muốn một Trung Đông sạch bóng nguyên tử, kể cả Do-thái”.
Vì tức giận cuộc chiến  tranh do Israel tiến hành ở Gaza, Assad đã ngưng mọi cuộc hoà đàm với Do-thái qua môi giới của Thổ. Nhưng ông cũng gián tiếp cho hay, sẵn sàng nói chuyện với Hoa-kì và Âu châu.
Mùa thu 2009, tảng băng giữa Siri và phương tây bắt đầu tan, rõ ràng nhờ những nhượng bộ của Hoa-kì chứ không phải do bom do-thái. Tổng thống Pháp Sarkozy đã tiếp Assad ở điện Elysée và đã đưa ra một điều kiện bình thường hoá quan hệ thằng thừng: “Ông hãy chấm dứt hợp tác nguyên tử với Iran đi!”. Đầu tháng 10, thứ trưởng ngoại giao Siri là Faisal Makdad được phép bay sang Washington bàn chuyện với đồng nghiệp hoa-kì. Với đồng í của Mĩ, quốc vương Ả-rập Saudi cũng sang Damaskus tìm cách lay chuyển Assad.
Sắp tới có thể tổng thống Obama sẽ gởi một tuỳ viên quân sự, và sau đó có thể cả đại sứ sang Damaskus. Hoa-kì bắn tiếng, rồi đây có thể sẽ gạt tên Siri ra khỏi danh sách các nước hỗ trợ khủng bố (trong đó có Iran, Bắc Hàn và Sudan). Và Assad có thể sẽ nhận được hàng tỉ viện trợ và trao đổi kĩ thuật tân tiến của quốc tế. Assad thừa hiểu rằng, có như thế ông mới vực dậy nổi nền kinh tế èo uột của quốc gia ông.
Liên hệ giữa Damaskus và Teheran trong những tuần qua trở nên xấu hơn. Tình báo tây phương cho biết, nhà cầm quyền Iran buộc Damaskus phải trả lại vô điều kiện mọi khoản Uran đã nhận được, vì Damaskus không cần tới nữa.
Tin tức mới nhất – theo Spiegel biết – Assad đang toan tính một màn chính trị ngoạn mục. Hình như trước phái đoàn Bình-nhưỡng, ông cho hay sẽ bạch hoá kế hoạch nguyên tử “quốc gia” của mình, nhưng sẽ không thố lộ sự hợp tác với Bình-nhưỡng và Teheran. Trước đây, Gadafi cũng đã “xưng tội” chương trình nguyên tử của mình và ông này đã được lợi lớn từ những trợ giúp quốc tế.
Quả bóng thăm dò của Assad đã gặp phản ứng mạnh. Nghe đâu Bình-nhưỡng cử một đại diện cao cấp sang và cho hay, nếu trường hợp trên xẩy ra, Bình-nhưỡng sẽ chấm dứt mọi cộng tác trong lãnh vực vũ khí hoá học với Damaskus. Phản ứng của Iran còn mạnh hơn. Said Dschalibi, thuộc viên thân tín của đạo chủ Ali Chameni và là nhân viên cầm đầu các cuộc thảo luận về vấn đề nguyên tử của Iran, đã mang sang Damaskus một lá thư của Chameni, trong đó: “không thể chấp nhận, chấm dứt liên minh chiến lược, các liên lạc bị ảnh hưởng nặng nề”.
Xem ra Assad do dự – nhưng chỉ tạm thời. Tuy nhiên, hình như ông cũng đang tìm cách liên lạc thẳng với thủ tướng diều hâu do-thái là Netanjahu – mà vẫn không để cho quan hệ với Iran và Hisbolla hoàn toàn gián đoạn – để trả giá: Ông sẽ công nhận Israel và sẵn sàng làm môi giới cho Do-thái và Iran với điều kiện lớn là Do-thái phải trả lại toàn bộ phần đồi Golan cho Siri.
Chiến dịch “Vườn cây trái” có tạo được ấn tượng cho Iran và làm cho nước này hiểu rằng đó là một lời cảnh cáo cuối cùng không? Chả cần phải đợi đến biến cố al-Kibar, Iran từ trước đã chuyển đa phần máy li tâm chế biến Uran xuống hoạt động dưới các hầm sâu trong lòng đất, những căn hầm như ở Natans mà với các loại siêu bom – thứ mà Nhà trắng đang yêu cầu cung cấp vì “có nhu cầu sử dụng khẩn cấp” – cũng không thể xuyên thấu.
Hoa-kì – hoặc Do-thái – sẽ phải đánh bom hàng tuần, mà cũng không chắc phá được hết cả những lò đã được biết lẫn những lò còn bí mật. Mà có phá được thì cũng chỉ làm cho chương trình nguyên tử của Iran chậm lại vài tháng mà thôi. Đó là chưa nói đến khả năng trả đũa của Iran. Tháng 9 vừa rồi, thế giới sửng sốt vì Iran lại bạch hoá thêm một lò bí mật.
Chiến dịch “Vườn cây trái” chỉ đạt được một mục tiêu duy nhất: phá huỷ lò phụ của Iran ở al-Kibar, nếu như Iran quả thật đã muốn xây ở đó một lò phụ cho mình. Thời gian đang có lợi cho Iran. Hiện nay Iran đã có “Breakout Capacity”, nghĩa là đã có khả năng chế bom lúc nào họ muốn.
Còn Siri? Không có dấu hiệu nào cho thấy Siri muốn và có khả năng thử lửa một lần nữa. Từ tro tàn al-Kibar họ quả thật đã dựng lên một nhà máy vũ khí quy ước.