Viện Đại Học Harvard, Cambridge, Massachusetts, Hoa Kỳ

 
Viện Đại Học Harvard, Cambridge, Massachusetts,  Hoa Kỳ


Đỗ Hữu Nghiêm
 




Chú thích:

Nhằm cung cấp một ít kiến thức cơ bản mà người viết có dịp tham quan nhanh chóng hôm chủ nhật, ngày 05/10/2008, nhân chuyến đi tham dự hội thảo ngày 4/10/2008,7 tại Boston College về “truyền bá tin mừng bằng văn hóa” và đứng chụp hình kỷ niệm dưới chân tượng của John Harvard và dưới bệ tác phẩm điêu khắc của nghệ sĩ tài danh Henry More trong khuôn viên Đại Học Harvard. Ở đây tôi được nhìn thấy, những người đứng chụp hình dưới chân tượng J.Harvard và thích lấy một tay sờ vào chân phải bức tượng để có một chút “hên” nào đó toát ra từ nhân cách của con người John Harvard.
Học giả Vũ Đình Nhâm là một kho kiến thức tự điển bách khoa sống về Harvard đã chỉ cho chúng tôi chỗ ông đã mài đũng quần mấy năm trời tại Trường Harvard để thành một người có chút năng lực về giúp nước sau này, đáp lại công ơn các linh mục Dòng Don Bosco đã hết lòng tạo điều kiện cho ông trong số 200 thanh niên khác nữa, hiện cũng đang chờ về Việt Nam phục vụ khi có điều kiện thuận lợi. Cùng đi chung với tôi, dưới sự hướng dẫn của học giả Vũ Đình Nhâm, có học giả nhà văn Trà Lũ và họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi đã một thời học tại Trường Chân Phước Liêm Gò Vấp Gia Định do các linh mục dòng Đa Minh Việt Nam trước kia thuộc chi tỉnh Tây Ban Nha ở Manila điều khiều, Tôi có hân hạnh được giảng dậy mấy năm tại ngôi trường này.
Kết thúc chuyến thăm viêng chúng tôi cùng về dùng bữa trưa thân ái với gia đình Khôi-Mai. Mới bắt đầu vào bàn ăn, thì có anh chi bạn của gia đình Khôi Mai cùng đến chia sẻ bữa ăn thần mật với chúng tôi. Thật là quí hóa một mối thâm tình trung tín thầy trò mà ngày nay đã bắt đầu hiếm có và nhất là trên đât Mỹ. Cám ơn anh chị Khôi Mai và mọi người cùng có mặt.



Tổng Quát Về Viện Đại Học Harvard

Viện Đại Học Harvard là một Viện Đại Học tư thục tại Cambridge, Massachusetts, Hoa Kỳ, và là thành viên của Liên Đoàn Ivy Federation. Được cơ quan lập pháp thuộc địa Massachusetts (Tổng Tòa Cao Câp của Massachusetts Bay Colony) thành lập năm 1635, 16 năm sau khi những nhà du hành đến Plymouth Harvard College, Havard là cơ sở giáo dục cao đẳng cổ xưa nhất tại Hoa Kỳ, Nó cũng là tổ hợp đầu tiên và lâu đời nhất tại Bắc Mỹ.

John Harvard, Một Giáo Sĩ Anh Giáo, Ân Nhân Của Viện Đại Học

Viện này được đặt theo tên theo vị ân nhân đầu tiên John Harvard ở Charlestown. Ông là một giáo sĩ trẻ, khi chết năm 1638, đã có di chúc để lại thư viện và một nửa di sản của ông cho cơ sở giáo dục mới này. Thực sự ông đã để lại cho học viện 400 cuốn sách và 779 đồng. John Harvard tốt nghiệp trường Emmanuel College nước Anh, Cambridge, một college thuộc Đại Học Cambridge và trường Grammar School Thánh Olave, Orpington, Đại Vương Quốc Anh. Với tên ban đầu là New College hay College at New Towne, thiết chế này được gọi là Harvard College ngày 13/3/1639, và Học Viện được Hiến Pháp Massachusetts Constitution 1780 chính thức nói đến lần đầu tiên Harvard như một “Viện Đại Học”.
Hiến Chương thành lập tổ hợp Harvard College được Thống Đốc Toàn Quyền Thomas ký năm 1650. Mục đích trước hết của College là đào tạo các giáo sĩ Thanh Giáo

Những Bước Phát Triển Của Viện Đại Học Harvard

Trong suốt 40 năm nắm giữ trách vụ Viện Trưởng Harvard (1869-1909),Charles William Eliot đã biến đổi triệt để Harvard thành một viện đại học nghiên cứu kiểu mẫu. Cải cách của Eliot gồm các giáo trình tuyển chọn, các lớp học nhỏ bé, và các kỳ thi nhập học. Khuôn mẫu Harvard ảnh hưởng đến nền giáo dục Quốc Gia Mỹ, ở cấp học viện cũng như trung học. Eliot còn chịu trách nhiệm xuất bản Các Bộ Môn Cổ Điển Harvard Classics nổi tiếng ngày nay, một sưu tập các cuốn sách vĩ đại từ nhiều bộ môn khác nhau.
Sưu tập này được nhà P.F. Collier and Sons bắt đầu xuất bản năm 1909, và  đề xuất một nền giáo dục học viện cao đẳng “có mười lăm phút đọc sách mỗi ngày”. Bộ sách này nhanh chóng được nhiều người biết dưới tên “Dr Eliot’s Five-Foot Shelf”. Trong thời kỳ ông làm Viện Trưởng giàu ảnh hưởng, Eliot là một nhà viết sách báo, sáng tác nhiều, và diễn thuyết du hành nhiều trong thời đại trước khi máy truyền thanh ra đời. Ông trở thành một khuôn mặt công khai được nhiều người biế đến. Vì thế, khi ông chết năm 1926, thì tên ông, và không lẫn với tên Harvard, thành đồng nghĩa với một người Mỹ ngưỡng vọng một nền giáo dục cao đẳng Mỹ.
Năm 1999, Racliffe College, được thành lập năm 1879 như Harvard Annex for Women” chính thức hoà vào Viện Đại Học Harvard, trở nênHọcViện Radcliffe for Advanced Study

Thư Viện Harvard, Thư Viện Lớn Thứ Tư Trên Thế Giới

Sưu tập thư viện Harvard gồm có hơn 15 triệu cuốn sách. Đó là thư viện hàn lâm lớn nhất tại Hoa Kỳ, và thư viện lớn thứ tư trong năm đại thư viện trên thế giới (sau Library of CongressBritish Library, Bibliothèque Nationalecủa Pháp, nhưng xếp trên New York Public Library. Harvard kiên vững đứng số một trong danh sách xếp hạng các Trường Cao Đẳng Tổng Hợp và các Viện Đại Học và có vốn đầu tư tài chính lớn nhất, tư 38,7 tỉ đồng cho năm 2008, trong bất cứ một tổ chức bất vụ lợi nào, ngoại trừ Quỹ Bill and Melinda Gates Foundation..

Những Mục Tiêu Ban Đầu của Trường Harvard

Trong những năm đầu, College đưa ra một giáo trình hàn lâm cổ điển theo mẫu đại học Anh. Giáo trình đó gắn bó với nền triết học Thanh giáo đang có ưu thế lúc đó do các nhà thuộc địa đầu tiên tại New England chủ trương. College là một bộ phận của giáo phái Cộng Đoàn Congregationalist. Một tập sách nhỏ ban đầu, xuất bản năm 1643, minh định rõ hiện hữu của College: “Nhằm thăng tiến việc học hỏi và lưu truyền mãi mãi cho hậu thế; sợ để lại một thừa tác vụ thất học cho các giáo hội”.
Khẩu hiệu đầu tiên của Harvard là “Vì Chúa Kitô và Giáo Hội”. Trong một chỉ thị cho các sinh viên, khẩu hiệu đó nếu rõ mục đích của tất cả nền giáo dục: “Đơn giả, hãy giúp huấn luyện mỗi sinh viên và hãy nhận xét kỹ rằng cùng đích chính yếu của đời sống và học vấn của họ là hiểu biết Thiên Chúa và Chúa Giêsu. Ngài là đời sống vĩnh hằng. Và vì thế hãy để Chúa Giêsu làm nền tảng căn bản duy nhất của tất cả mọi nghiên cứu và tri thức lành mạnh
Ngày 11/6/1685 Increase Mather trở thành Chủ Tịch Điều Hành Viện Đại Học Harvard (lúc đó vẫn là Harvard College. Ngày 23/7/1686 ông được bổ nhiệm là Viện Trưởng Rector. Ngày 27/6/1692 ông trở thành Chủ Tịch Viện Harvard, và ông giữ chức vị này đến 6/9/1701.

Một Bước Ngoặt Của Harvard

Tiến Trình Thoát Ly Khỏi Tác Động Thanh Giáo, Đi Đến Tư Nhân Hóa.

Paul Revere cho khắc chữ Harvard College năm 1767. Việc tuyển cử năm 1708 chọn John Leverett làm Chủ Tịch. Ông là chủ tỉch thứ nhất không phải là một giáo sĩ. Điều đó đánh dấu một khúc quanh biến trường này độc lập về mặt trí thức với tư tưởng Thanh Giáo.
Vào thế kỷ thứ 17 Viện Đại Học Harvard thiết lập Indian College nhằm giáo dục người Mỹ Bản Địa, nhưng trường đó không thành công và biến mất khoảng năm 1693.
Eliza Susan Quincy vẽ cuộc rước tháng Chín 1836 của các học viên trường Harvard rời Nhà Hội Giáo Xứ Đầu Tiên và đi bộ đến tòa Pavilion. Eliza Susan Quincy là con gái của Josiah Quincy, Chủ Tịch Harvard University (1829-45).
Giữa năm 1830 và 1870 Harvard được “tư nhân hóa”. Trong lúc các đảng viên Liên Bang kiểm soát chính quyền bang, thì Harvard thịnh đạt. Nhưng đảng liên bang bị đánh bại tại Massachusetts đã giúp các đảng viên Dân Chủ-Cộng Hòa hồi sinh. Chính họ lại muốn chặn đứng việc tài trợ cho các viện đại học tư nhân. Vì thế khoảng năm 1870, các chính trị gia và các giáo sĩ từ đó đã lập raBan Quản Trị Đại Học do các học viên Harvard thay thế. Họ xuất thân từ các cộng đoàn doanh gia và chuyên nghiệp và được vốn tư nhân tài trợ.

Tiếp Tục Phát Triển Tự Trị Phóng Khoáng Hơn

Trong thời kỳ này, Harvard từng trải một sự lớn mạnh vượt bực khiến Harvard đạt tới mức đầu tư tài chính vững chắc, trong thế liên minh của riêng mình giữa các colleges của Mỹ. Ronald Story lưu ý rằng năm 1850, toàn bộ tích sản của Harvard bằng năm lần tích sản của Amherst và Williams cộng lại và bằng ba lần tích sản của Yale…
Khoảng năm 1850, như một học giả tài năng đang lên đã nhận xéti: đó là một trường đại học thực sự, ‘khôn sánh về các phương tiện’so với bất cứ cơ sở giáo dục nào khác tại Mỹ. Một người khác nói “đó là Viện Đại Học vĩ đại nhất trong mọi sáng tạo”. Story còn lưu ý rằng “mọi bằng chứng hiển nhiên đều chỉ rõ bốn thập niên, từ 1815 đến 1855”, là thời đại các bậc cha mẹ, theo lời Henry Adams nói, bắt đầu ‘gửi con họ đến Harvard College vì các lợi ích xã hội của trường này”.
Harvard cũng là một trường dẫn đầu trong việc nhận các nhóm thiểu số chủng tộc và tôn giáoStephen Steinberg, tác giả cuốn The Ethnic Myth, đã chú thích rằng “một khí hậu bất khoan dung thắng thế tại nhiều trường college ở phía Đông lâu năm trước khi các phần tử kỳ thị được ngó tới” và lưu ý rằng “người Do Thái có xu hướng tránh các khuôn viên như Yale và Princeton, nổi tiếng vi tín niệm mù quáng… [trong khi] dưới thời Chủ Tịch Eliot quản trị , Harvard nổi tiếng là trường phóng khoáng và dân chủ nhất trong Ba Viện Lớn, và vì thế người Do Thái không cảm thấy rằng lối đến với college tuyệt diệu này là bị đóng lại hẳn”. Trong năm 1870, một năm bước vào nhiệm kỳ của Eliot, Richard Theodore Greener trở thành người Mỹ gốc Phi Châu đầu tiên tốt nghiệp từ Harvard College. Bảy năm sau Louis Brandeis, viên quan toà Do thái đầu tiên vào Tối Cao Pháp Viện, đã tốt nghiệp từ trường Luật Harvard Law School.
Năm Chủ Tịch Trường Đại Học Harvard lần lượt quản trị khi họ phục vụ làJosiah Quincy III, Edward Everett, Jared Sparks, James Walker và Cornelius Conway Felton

Tác Động Dai Dẳng Của Tư Tưởng Tin Lành Trong Thế Kỷ XX
Tuy nhiên, Harvard trở nên một pháo đài của một giới ưu tuyển Tin Lành rõ rệt – giai cấp quý tộc Boston Brahmin – và tiếp tục như thế vào thế kỷ 20. Môi trường xã hội của Harvard thập niên 1881 được miêu tả trong cuốn Philosophy 4 của Owen Wister.
Mặc dù Harvard chấm dứt nhà nguyện đã yêu cầu vào giữa thập niên 1880, trường này về văn hóa vẫn là Tin Lành. Sợ tinh thần này phai nhạt dần, khi có nhiều người nhập cư ghi danh học, người Công giáo và Do thái vượt hẳn lên, khi bước vào thế kỷ XX. Khoảng năm 1908, người Công giáo chiếm tới 9% trong lớp sinh viên mới nhập học, và khoảng  giữa năm 1906 và 1922, người Do thái ghi danh vào học tại Harvard tăng từ 6 đến 20% .
Tháng 6/1922, dưới thời Chủ Tịch Lowell, Harvard thông báo phải ấn định sĩ số nhập học cho người Do Thái. Những trường đại học khác đã làm như thế một cách lắt léo, và nói rõ lập trường phải dùng cách đó để chống lại chủ nghĩa bài Do Thái. Họ biết rõ là các sinh viên càng có cảm giác bài Do Thái mạnh hơn, khi tỷ lệ số sinh viên Do Thái gia tăng, Khi số người Do thái còn ít, thì tinh thần chống đối chủng tộc cũng ít đi.
Môi trường xã hội trong thập niên xã hội, Myron Kaufman giới thiệu Harvard trong cuốn tiếu thuyết “Remember Me to God, Hãy Nhớ Cầu Chúa Cho Tôi” ra đời năm 1957. Cuốn đó mô tả  đời sống một sinh viên đại học Do Thái, khi ông cố chế ngự các nguy hiểm ngấm ngầm của chủ nghĩa bài Do Thái ngẫu nhiên. Ông đượccoi là một “người quân tử” (gentleman) và được nhận thuộc vào trong “nhóm người có tài năng đang lên”. Quả thực các chính sách có tính kỳ thị của Harvard, dù âm thầm hay minh thị, đã phần nào có trách nhiệm khiến các linh mục Dòng Tên lập ra Boston College (Công giáo) năm 1863 và người Do Thái dựng nên Brandeis University (Do Thái) ở Waltham gần đấy năm 1948, đúng vào lúc tân quốc gia Do Thái ra đời tại Trung Đông.
Các chính sách loại trừ của Harvard không chỉ giới hạn vào các nhóm thiểu số tôn giáo. Năm 1920 “Harvard University” đã quỷ quyệt bách hại và sách nhiễu những kẻ mà họ coi là đồng tính lẳng lơ qua một “Tòa Án Mật” do Chủ Tịch Harvard A. Lawrence Lowell lãnh đạo. Các toà án này được triệu tập theo chỉ thị của một cựu sinh viên giàu có, và các bản án truy tà loại trừ này được thực hiện. Ngoài ra, trường đại học này còn thù dai khi muốn các sinh viên bị trục xuất này sẽ tiếp tục bị bêu nhục mãi suốt cuộc đời sinh sản của họ”. Việc đó khiến hai người phải tự sát.
Chủ Tịch Harvard Lawrence Summers đã đánh giá đặc điểm của thời kỳ 1920 là “phần thuộc về một quá khứ mà chúng ta đã thẳng thừng bỏ lại sau”, và “đáng ghê tởm và một sỉ nhục cho các giá trị của trường đại học chúng ta”. Nhưng mãi cho đến những năm 1950 Wilbur Bender, khi đó là Trưởng Ban Tiếp nhận vào Harvard College, đang tìm những đường lối tốt hơn để “phát hiện các xu hướng đồng tính và các vấn đề tâm thần trầm trọng” nơi các sinh viên mắc phải.
Trong thế kỷ thứ XX, tiếng tăm quốc tế của Harvard lớn mạnh khi số vốn đầu tư ngày càng lớn dần và các giáo sư kiệt xuất mở mang tầm nhìn của trường đại học. Sĩ số sinh viên tiếp tục lớn mạnh như bùng nổ với nhiều trường tốt nghiệp mới và chương trình cấp đại học được mở mang. Radcliffe College, thành lập năm 1879 là ngôi trường đàn em của Harvard College, trở nên một trong những trường nổi bật nhất cho phụ nữ tại Hoa Kỳ.
Trong các thập niên ngay sau Thế Chiến II, Harvard cải tổ các chính sách thu nhận. Chẳng hạn, nhà trường tìm kiếm sinh viên từ một hồ bơi có nhiều người nộp đơn dị biệt hơn. Trong khi các sinh viên đại học hầu như tuyệt đối là da trắng, thì các sinh viên giai cấp trên thuộc các trường nhánh ở New England có chọn lọc như Exeter và Andover, làm tăng số sinh viên quốc tế thuộc nhóm thiểu số, và giai cấp lao động. Vào cuối những năm 1930, điều này làm thay đổi khuôn mặt chủng tộc và kinh tế xã hội của trường đại học. Tuy nhiên trong sĩ số sinh viên đại học, ưu thế vẫn là giới nam. Cứ chừng bốn người nam theo học Harvard College mới có một người nữ tại Radcliffe. Năm 1977, sau khi Harvard và Radcliffe hợp nhất các điều kiện tiếp nhận sinh viên, thì tỷ lệ nữ sinh viên đại học gia tăng vững vàng, phản ảnh xu hướng chung của ngành giáo dục cao đẳng tại Hoa Kỳ. Các Trường hậu đại học nhận nữ sinh viên và các nhóm khác ngày càng đông. Trong thời hậu chiến, ngay cả trước khi học college, học sinh đã trở nên ngày càng dị biệt

Các Chính Sách Của Harvard

Ngày nay, Harvard được coi như một nhúm những trung tâm giáo dục cao đẳng hàng đầu của thế giới. Mặc dù đôi khi có những thời kỳ héo hon, có phần phản động trải qua lịch sử lâu dài của nó, Harvard cùng các chi nhánh hệ thuộc của nó, vẫn đi ngay hàng với hầu hết các trường đại học Mỹ, về chính trị nói chung là phóng khoáng (trung tả). Chẳng hạn chung quanh năm 1970 Richard Nixon đã ầm ĩ tấn công Harvard là “Kremlin trên sông Charles”. Năm 2004, Harvard Crimson thấy rằng các sinh viên đại học ưu ái Kerry hơn Bush khoảng 73% so với 19%. Họ gắn bó ủng hộ Kerry tại các thành phố phía Đông quan trọng như Boston và New York City. Trong khi có lúc đã bị phê phán là chỉ lo phát triển giới ưu tú elitist và “thù nghịch với giới trí thức tiến bộ” (Trumpbour), thì Harvard vẫn có cả những người bảo thủ và phóng khoáng theo học.Tổng Thống Cộng Hòa George W. Bush tốt nghiệp từ Harvard Business School và Tổng Thống Dân Chủ John F. Kennedy và Phó tổng thống Al Gorexuất thân từ Harvard College.
Ngày nay, cả những tiếng nói bảo thủ kiệt xuất và phóng khoáng nổi bật xuất thân từ phân khoa nhiều trường khác nhau, như Martin Feldstein, Harvey Mansfield, Greg Mankiw, and Alan Dershowitz. Những nhà theo chủ nghĩa mácxít như Michael Walzer và Stephen Thernstrom và những người phóng khoáng như Robert Nozick đã có quá khứ học vấn tại phân khoa của Harvard, Từ bên trong các cổng trường, Harvard lấy làm hãnh diện về tính trung thực dữ dội và không khoan nhượng với truyền thống tự do hàn lâm và diễn thuyết cởi mở và tự do mà trường bảo vệ được vì nền giáo dục Mỹ trong gần bốn thế kỷ.

Các Tổ Chức

Harvard được quản trị do hai Ban, một Ban là Chủ Tịch và Các Thành Viên thuộc Harvard College, còn được biết là Tổ Hợp Harvard Corporation, và ban kia là Board of Overseers Ban Giám Sát. Chủ Tịch tức Viện Trưởng của Harvard University là viên chức quản trị hàng ngày của Harvard và được Harvard Corporation bổ nhiệm và chịu trách nhiệm với Tổ hợp này.
Harvard hiện nay có chín phân khoa, được kê khai theo thứ tự thành lập như sau:
Harvard Yard với các nhà lưu trú trong khu vực
Faculty of Arts and Sciences Phân Khoa Nhân văn và Khoa Học và phân khoa phụ,
School of Engineering and Applied Sciences, Trường Kỹ Thuật và Khoa Học Ứng Dụng đều phục vụ:
Harvard CollegeTrường Tổng Hợp Harvard, bộ phận sinh viên đại học chưa tốt nghiệp của trường đại học (1636)
Graduate School of Arts and Sciences Trường Hậu Đại Học Nhân Văn Và Khoa Học (tổ chức năm 1872)
Harvard Division of Continuing Education Phân Bộ Harvard Giáo Dục Liên Tục, gồm có Harvard Extension School (1909) và Harvard Summer School (1871)
Phân Khoa Y Học, gồm Medical School Trường Y (1782) và Harvard School of Dental Medicine Trường Nha khoa Harvard (1867)
Harvard Divinity School Trường Thần Học Harvard (1816)
Harvard Law School Trường Luật Harvard (1817)
Harvard Business School Trường Kinh Doanh Harvard (1908)
Graduate School of Design Trường Hậu Đại Học Về Thiết Kế (1914)
Graduate School of Education Trường Hậu Đại Học Về Giáo Dục (1920)
School of Public Health Trường Sức Khỏe Công Cộng (1922)
John F. Kennedy School of Government Trường Quản Trị  John F. Kennedy (1936)
Năm 1999, Radcliffe College trước kia được tái tổ chức thành Radcliffe Institute for Advanced StudyHọc Viện Radcliffe Nghiên Cứu Tiên Tiến

Hệ Thống Thư Viện Và Bảo Tàng Viện

1. Harry Elkins Widener Memorial Library

Hệ thống Harvard University Library, tập trung trong Widener Librarytại Harvard Yard và gồm trên 80 thư viện cá thể và trên 15 triệu cuốn sáchđược xem là sưu tập thư viện lớn nhất thứ tư trên thế giới như đã nói trên. Harvard mô tả thư viện của mình là “thư viện hàn lâm lớn nhất trên thế giới và hãnh diện là thư viện duy nhất trong năm “đại thư viện” co các stacks mở.Cabot Science Library, Lamont Library, và Widener Library là ba trong các thư viện bình dân nhất cho các sinh viên đại học xử dụng, dễ tìm và có nơi tập trung. Các nhiều sách hiếm quí, bản thảo và nhiều sưu tập đặc biệt khác qua khắp các thư viện của Harvard. Houghton Library, the Arthur and Elizabeth Schlesinger Library on the History of Women in America, and the Harvard University Archives chủ yếu gồm các tư liệu quí hiếm và độc nhất.
Sưu tập bản đồ, từ điển địa lý cổ nhất của Mỹ, và các tập sách bản đồ, cả cổ lẩn mới được lưu trữ trong Pusey Library và mở cho công chúng. Sưu tập tư liệu ngôn ngữ Đông Á bên ngoài Đông Á được bảo quản trong Harvard-Yenching Library.
Large Four Piece Reclining Figure Hình Nghiêng Bốn Tấm Lớn điêu khắc của Henry Moore được đặt ở vị trí ngoài trời Harvard Yard.

2. Harvard điều hành nhiều viện bảo tàng khoa học, văn hóa, nghệ thuật:

Harvard Art Museums, gồm :
Fogg Museum of Art, với các hành lang có nhiều đặc điểm lịch sử nghệ thuật phương Tây từ Trung Đại đến Hiện Đại. Đặc biệt mạnh về thời đầu thời Phục Hưng ở Ý, thời tiền Raphael ở vương quốc Anh, và nghệ thuật Pháp thế kỷ XIX.
 Busch-Reisinger Museum, trước kia là Germanic Museum, bao trùm nghệ thuật Trung và Bắc Âu.
 Arthur M. Sackler Museum, gồm nghệ thuật cổ , Áchâu, Hồi giáo và bản địa Ấn sau naày.
Peabody Museum of Archaeology and Ethnology, chuyên về lịch sử và văn minh của Tây Bàn Cầu
Phức Hợp Harvard Museum of Natural History gồm:
Harvard University Herbaria, chứa đựng trưng bày Blaschka Glass Flowers Hoa Thủy Tinh Blaschka nổi tiềng.
Carpenter Center for the Visual Arts, được Le Corbusier thiết kế, là nơi cho viện khảo cổ phim của Trường Đại Học và Ban Visual and Environmental Studies.

Tiếp Nhận

Harvard College nhận 7, 1% các đương đơn cho lớp học năm 1012, một con số kỷ lục thấp cho toàn thể lịch sử của nhà trường. Con số người được tiếp nhận thấp hơn trong năm 2008, một phần vì trường đại học ấn định trước các tỷ lệ ghi danh gia tăng, sau khi loan báo khoản gia tăng tài chính lớn trợ giúp cho năm 2008. Đối với lớp học 2011, Harvard tiếp nhận ít hơn 9% người nộp đơn, với một thành quả là 80%.
US News and World Report xếp hạng "America's Best Colleges 2009" Harvard đứng số 2 trong tính lựa chọn cùng ràng buộc với Yale, Princeton và MIT, sau Caltech), và hạng thứ nhất trong các trường đại học quốc gia tốt nhất (Princeton University xếp hạng thứ hai).
US News and World Report lên danh mục các tỷ lệ bách phân trường hợp tiếp nhận năm 2006 là 14,3% cho trường kinh doanh , 12, 5% cho kỹ thuật, 11, 3% cho luật, 14, 6% cho giáo dục, và 4,9% cho y học. Vào tháng 09/2006, Harvard College loan báo rằng trường sẽ loại bỏ chương trình tiếp nhận ban đầu cho năm 2007. Các viên chức trường đại học lập luận rằng chương trình đó sẽ làm cho những người nộp đơn thuộc nhóm thiếu số có thu nhập thấp và có ít đại diện bớt phải chịu nỗi bất lợi khi thi tuyển vào các trường đại học vốn có chọn lọc.

Tham Khảo