Con Đường BAO DUNG trong Văn Hoá và Huyền Sử Việt Nam

Con Đường BAO DUNG
 
trong Văn Hoá và Huyền Sử Việt Nam
 
 
Nguyễn Văn Thành, Thụy Sĩ
 
 
Nội Dung
 
 
1.      Con đường Bao Dung…
2.      Con đường Bao Dung bắt đầu từ…
3. Ý thức đến ba Nhân Vật
4. Hóa giải những Xúc Động
5. Bốn sinh hoạt chính yếu
6. Những mặc cảm
 
***
1. Bao dung trong Văn Hóa và Huyền Sử Việt Nam
(Empathy and Tolerance in the Vietnamese Culture and Mythology)
 
 
Kính thưa Anh Chị Em Đồng bào,
Các bạn trẻ thân mến,
 
 
Tôi rất hân hạnh và cảm động được Ban Tổ chức của Trung Tâm Văn Hóa Nguyễn Trường Tộ[1] gọi về tham dự ngày họp mặt, vào mùa hè năm 2008 này. Thêm vào đó, Trung Tâm còn giao phó cho tôi trách nhiệm trình bày và chia sẻ về đề tài “Bao Dung trong Văn Hóa và Huyền Sử Việt Nam”.
 
Trước tiên, tôi xin thú thật với tất cả quý vị: tôi đang phân vân và lo ngại làm sao tôi có thể trao đổi và điều hợp buổi hội luận một cách nghiêm chỉnh về đề tài này, chỉ trong vòng trên dưới một hai tiếng đồng hồ mà thôi. Nói khác đi, làm sao tát cạn được một vấn đề, mà tôi đã học hỏi và nghiên cứu, trong bao nhiêu tháng tháng và năm năm, từ lứa tuổi mới lớn lên cho đến ngày hôm nay?
 
-         Trước hết, từ khi đi vào lứa tuổi “tam thập nhi lập” (khả năng tự lập của tuổi 30), 
-         Cho đến giai đoạn tiếp theo là “tứ thập nhi bất hoặc”(không còn bị mê hoặc và sai lầm, vào tuổi lên 40)
-         Ngang qua giai đoạn thứ ba là “ngũ thập nhi nhĩ thuận” (biết lắng nghe tiếng kêu đau thương của bà con xa gần, sống hai bên cạnh, từ khi tôi đi vào lứa tuổi 50),
-         Sau đó, trong giai đoạn thứ tư là “lục thập nhi tri thiên mệnh” (khả năng nhận ra ý định nhiệm mầu của Trời Đất, vào lứa tuổi 60),
-         Bây giờ là giai đoạn thứ năm “thất thập nhi tùng tâm” (đi theo tiếng gọi của Con Tim hay là con đường Tình Yêu, từ tuổi 70 trở lên),
-         Cho đến một hôm không còn xa bao lăm, tôi sẽ trở thành “cổ lai hy” (con người thiên cổ, hòa mình với cát bụi và phân bón, nhằm tưới tẩm và nuôi sống những mùa màng đang từ từ lớn lên trong lòng của Quê Hương )…
 
Thay vì trình bày nhiều chi tiết rất quan trọng có mặt trong những giai đoạn hoặc lứa tuổi khác nhau, vừa được đề xuất, bài chia sẻ này chỉ muốn kêu mời quý vị và các bạn hãy cùng tôi khảo sát 3 câu hỏi chính yếu sau đây:
 
-         Câu hỏi thứ nhất: BAO DUNG có nghĩa là gì? Lý tưởng mà chúng ta hướng đến hay là viễn ảnh Bao Dung mà chúng ta khát khao, tìm kiếm và cố quyết thực hiện cho đời mình cũng như cho Anh Chị Em Đồng bào, bao gồm những giá trị then chốt nào?
 
-         Câu hỏi thứ hai: Trong hiện trạng của bản thân và cuộc đời, cũng như trong hiện tình của Quê Hương và Đất Nước Việt Nam, con đường bao dung ấy đang gặp những khó khăn và trắc trở như thế nào? Vì lý do gì?
 
-         Câu hỏi thứ ba: Trên con đường trải dài từ khởi điểm đến tận điểm, chúng ta cần ngày ngày tiến lên những giai đoạn cụ thể như thế nào? Đâu là những động tác cần thiết, mà chúng ta cố quyết thực hiện, ngay bây giờ, với tất cả con tim cũng như trí óc, để trở thành con người có bản sắc bao dung. Nói khác đi, chúng ta không những CHỈ bao dung ở đầu môi chót lưỡi, hay là với những câu nói tuyên truyền láo khoét. Trái lại, con đường Bao Dung cần có mặt,trong từng quan hệ tiếp xúc và trao đổi của chúng ta với anh chị em đồng bào, ở đây và bây giờ, trong giây phút hiện tại của cuộc đời.
 
 
 
*****
 
 
 
Phần thứ nhất
 
Con đường Bao dung
trong cuộc đời làm người của chúng ta
 
 
Muốn tìm hiểu ý nghĩa thâm sâu của con đường Bao Dung, trong nền Văn Hóa Việt Nam, theo ý kiến của tôi, nhân vật lịch sử cần được chúng ta qui chiếu một cách đặc biệt, là NGUYỄN TRÃI.
 
Hẳn thực, vào mùa thu năm 1427, sau gần 10 năm kháng chiến chống ngoại xâm, nghĩa quân Lam Sơn của Lê Lợi – sau này sẽ trở thành Vua Lê Thái Tổ (1428-1433) – đã từ từ lớn mạnh và thu gặt nhiều thắng lợi vẻ vang. Viện quân bao gồm hơn 10 nghìn binh sĩ thiện nghệ, do Minh Triều từ phương Bắc gửi qua, bị phục kích và đánh tan tơi bời, phải rút về khỏi biên giới Đại Việt. Tàn quân còn đóng lại tại Đông Quan hay là Thủ đô Thăng Long (Hà Nội), bị bao vây tứ phía. Rốt cùng, viên tướng chỉ huy quân Minh là Vương Thông phải viết thư cho Lê Lợi xin nghị hòa.
 
Nghe tin ấy loan ra, toàn thể tướng lãnh, binh sĩ của Đại Việt, cũng như đoàn lũ bô lão, phụ nữ… từ khắp nơi tấp nập kéo nhau về yêu cầu Lê Lợi hãy tàn sát, tận diệt quân Minh, để báo thù cho Tổ Tiên và các Vong Linh đã hy sinh cho Đất Nước, trong vòng suốt 20 năm.
 
Toàn quân và toàn dân có mặt, đều vái lạy và kêu van: “Xin hãy giết sạch lũ giặc Tàu”.
 
Trong tình huống ấy, duy một mình NGUYỄN TRÃI, đơn thân độc mã, đã đứng lên đối diện với quần chúng đầy thù hận, can đảm trình bày và đề nghị Con Đường BAO DUNG, với những lời lẽ như sau:
 
“Trong hoàn cảnh hiện nay, tấn công quân thù và uống máu chúng… thì chả khó khăn gì đối với chúng ta.
 
Nhưng dự phóng lớn lao phải được xây dựng trên NHÂN NGHĨA và CÔNG CHÍNH.
 
Nhân đức đầu tiên và cuối cùng  của chúng ta là ở chỗ biết bảo toàn các sinh mệnh, để dành cho những viễn cảnh lâu dài và to lớn hơn”. Nói khác đi, một cách dễ hiểu hơn, là mỗi người trong chúng ta – tuyệt đối không một ai bị loại trừ – có trách nhiệm trối lại cho các thế hệ con em của chúng ta sau này, một gia sản hay là một bài học về Lòng Từ Tâm và Bao la, Đại Lượng và Dung Thứ”.
 
Sau lời phát biểu đầy nhân đạo và rộng lượng ấy, NGUYẼN TRÃI đã thinh lặng và LẮNG NGHE, ghi nhận nhiều vấn nạn nổi lên từ mọi phía. Trong số đó, có nhiều lời chỉ trích rất tàn ác và xiên xẹo… Nhiều lời mạ lị rất hèn hạ, lợi dụng cơ hội để bùng nổ và xuất hiện…
 
Trong cách trả lời của NGUYỄN TRÃI, chúng ta cần ghi nhận những bước đi lên sau đây:
 
·        Thứ nhất, một cách thành tâm, thanh thản và đầy thân ái, Nguyễn Trãi không từ chối hay là phản bác những lý luận của bà con đã được phát biểu. Trái lại, Nguyễn Trãi đã coi trọng và nhìn nhận xúc động của họ. Lòng ước muốn báo thù là một tình cảm tự nhiên và chính đáng, nhất là sau gần 20 năm bị quân Minh tấn công, đàn áp và ức hiếp.
 
·        Thứ hai, bên cạnh nhu cầu báo thù, Nguyễn Trãi đã GÂY Ý THỨC cho mọi người nhìn thấy rằng họ còn có những nhu cầu làm người cao cả, trọng đại và lâu bền hơn. Nhu cầu báo thù sẽ bùng lên và vụt tắt như ngọn lửa rơm. Trái lại, chúng ta cần phát huy lòng nhân từ và khoan hậu, để xây dựng một Đất Nước trường tồn, trọng đại và cao cả. Một Đất Nước Vạn Xuân. Một Đất Nước Đại Việt, ngày ngày biết vươn mình lên thấu tận Bầu Trời là quê hương đích thực của Mẹ Âu Cơ.
 
·        Thứ ba, Nguyễn Trãi kêu mời mỗi người con của đất nước Đại Việt hãy ngày ngày tưới tẩm hạt mầm hòa bình và nhân đạo trong quả tim, để từ ngay bây giờ có thể trối lại cho các thế hệ tương lai một bài học “làm người” được cô động một cách tuyệt diệu, trong hai vần thơ sau đây:
 
“Lấy ĐẠI NGHĨA mà thắng hung tàn,
“Đem CHÍ NHÂN mà thay cường bạo”.
 
 
 
 
***
 
 
Phần Thứ Hai
 
Những chướng ngại lớn lao trên con đường Bao Dung
(Bốn loại tinh yêu ma quái trong lòng Đất Nước)
 
 
Qua vài ba câu nói vắn gọn của bài Bình Ngô Đại Cáo vừa được trình bày trên đây, Nguyễn Trãi đã nhắc lại cho mỗi người trong chúng ta bài học “BAO DUNG, ĐỒNG CẢM, CHIA SẺ”, đã có mặt trong Huyền Sử và Văn Hóa Việt Nam, từ ngày Lập Nước, cách đây hơn 4000 năm. Bài học “LÀM NGƯỜI” ấy đặt nền móng trên những giá trị như Đại Nghĩa và Chí Nhân, Từ Tâm và Thứ Tha, Cao Thượng và Bất Bạo Động, Tôn Trọng Sự Sống của muôn loài muôn vật và muôn người trong Trời Đất.
 
Phải chăng từ ngày môi miệng còn thơm mùi sữa của Mẹ, mỗi người trong chúng ta đã biết líu lo và bập bẹ những bài ca dao nói về lòng Bao Dung:
 
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
“Người trong một Nước hãy thương nhau cùng”.
“Bầu ơi thương lấy Bí cùng,
“Tuy rằng khác giống, cùng chung một giàn”.
“Một miếng khi đói bằng một đọi khi no”.
 
Hẳn thực, Bao dung là con đường tất yếu của những ai mang danh hiệu là con Rồng cháu Tiên. Mẹ của chúng ta là Bà Âu Cơ. Quê Hương của Mẹ là Bầu Trời Cao Cả và Đại Lượng. Cha của chúng ta là Lạc Long Quân. Quê Hương của Ngài là Biển Cả Mênh Mông, là Đại Dương Bao La và Bát Ngát. Nhờ Tình Thương âu yếm của hai người Cha Mẹ đầu tiên ấy, chúng ta đã được cưu mang cùng một lúc, trong một bào thai duy nhất. Cho nên từ ngày ấy cho đến nay, chúng ta có tập tục gọi nhau là Anh Chị Em Đồng Bào.
 
Trong tinh thần và lăng kính ấy, con đường hay là quan hệ Bao Dung bao gồm ba chiều kích quan trọng, trong BẢN SẮC “Làm Người” của người Việt Nam:
 
·        Chiều kích thứ nhất là Trời, Quê Hương của Mẹ chúng ta. Trời ở đây không phải chỉ là một ý niệm hoàn toàn lý thuyết, trừu tượng và duy tâm. Trời  là Nguồn Gốc, là nơi xuất phát của chúng ta. Hẳn thực, khi Mẹ Âu Cơ cưu mang chúng ta trong cung dạ, Mẹ đã rót vào trong quả tim của chúng ta, dòng máu của Trời. Trời có mặt trong các bài ca dao và tục ngữ, mà mẹ đã hát lên, để ru chúng ta ngủ lúc chiều tối. Trời là Ngôi Nhà để chúng ta trở về, sau một cuộc đời lam lũ, chân lấm tay bùn, lên đồng cạn xuống đồng sâu. Mẹ đã ôm ấp chúng ta thế nào trong những ngày tấm bé, thì chúng ta cũng bắt chước Mẹ, mở rộng hai cánh tay, để sẵn sàng đón nhận mọi người anh chị em xa gần, tản mác khắp năm châu bốn bể, nhất là những ai đói rách, một ngày chưa có một loong gạo để lót lòng. Bài học đầu tiên của chúng ta phải chăng là “tứ hải giai huynh đệ”, bốn biển một nhà?
 
·        Chiều kích thứ hai là Đất, Quê Hương của Người Cha chúng ta. Đất ở đây là Nước Non, Núi Rừng, Biển Cả mênh mông. Đất ở đây có nghĩa là “Nam Quốc Sơn Hà, Nam Đế cư”, trong bài Hịch Tướng Quân của Lý Thường Kiệt, trước khi lên đường đánh tan quân Nguyên. Đất được coi trọng, trong lời nhắn nhủ “bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu”. Cho nên chúng ta sẵn sàng hy sinh tính mạng để bảo vệ và gìn giữ. Không ý thức về chiều kích thứ hai này, chúng ta sẽ là những tên phản bội “rước voi về dày mả tổ”. Phải chăng Lời của Tổ Tiên còn vang vọng rõ nét trong đáy lòng sâu thẳm của chúng ta “Con không Cha là Nhà vô phúc”? Con không Cha ở đây có nghĩa là: con không tiếp tục con đường đi của Người Cha, hay là con không “Minh Minh Đức”, không ngày ngày đánh sáng Đức Sáng của Cha Ông và Tổ Tiên, trong chính bản thân mình…
 
·        Chiều kích thứ ba là Người, là Nhân, có nghĩa là Anh Chi Em Đồng Bào, cùng có mặt với nhau trong một Bào Thai của Mẹ. Nói cách khác, chiều kích thứ ba là những quan hệ qua lại hai chiều – yêu thương, đùm bọc, tha thứ – giữa Anh Chị Em Đồng Bào với nhau, cũng như giũa chúng ta và những người khách nước ngoài đến thăm viếng, làm việc và cư ngụ trên Quê Hương của chúng ta:
 
“Mở rộng Cửa NHÂN, mời khách đến,
“Vun trồng cây ĐỨC, nuôi con ăn”.
 
Nói tóm lại, Bao Dung bao gồm 3 gíá trị và ý nghĩa làm người sau đây:
Thứ nhất là Nhân Đạo, Đạo Làm Người,
Thứ hai là Tình Nghĩa keo sơn gắn bó giữa Anh Chị Em Đồng Bào,
Thứ ba là Nhân Đức và Đức Độ, Đại Lượng và Thứ Tha, khi một người Anh Chị Em có những lỗi lầm, sai trái lớn hay là nhỏ… đối với chúng ta.
 
Thiếu một trong 3 chiều kích ấy, Bao Dung sẽ nhường bước cho Vô Thần, Vô Tổ Quốc, Vô Đạo và Vô Nhân.
 
Thiếu một trong 3 chiều kích ấy, Bao Dung chỉ là tuyên truyền, láo khoét,
 
Thiếu một trong 3 chiều kích ấy, Bao Dung chỉ là huynh đệ tương tàn, bạo động, chiến tranh, mồ chôn tập thể và Đại lộ Kinh Hoàng…
 
Thiếu một trong 3 chiều kích ấy, Bao Dung sẽ bị tiêu diệt. Thay vào đó, chỉ còn lại một thứ luật rừng man rợ như: “Cá lớn nuốt cá bé”, hay là “gà một nhà bôi mặt đá nhau”…
 
Trong những ngày đầu tiên, trên những nẻo đường của Quê Hương, khi đi thăm viếng con cái tản mác khắp đó đây, Lạc Long Quân đã phải đối đầu với ba loại “tinh yêu ma quái” mà tôi vừa phác họa. Yêu Tinh là những quái vật, mang mặt người bên ngoài. Nhưng bên trong, với một tâm hồn tàn bạo, chúng nó tìm mọi cách để gieo tang tóc và đau thương. Chúng nó hủy diệt mọi loại quan hệ Bao Dung giữa Anh Chị Em Đồng Bào ruột thịt:
 
·        Loại Yêu Tinh thứ nhất là Mộc Tinh. Đây là một loại cây chiên đàn không gốc, không rễ, không lá, không hoa và không có trái. Chúng nó có mặt trên những nẻo đường quanh co và hoang vắng, để đe dọa khách qua đường và đòi hỏi những người “yếu vía” phải sụp lạy, dâng cúng tiền của, vàng bạc. Theo cách thuyên giải của tôi, đó là những người lạm dụng quyền lực và chức tước, để thực thi những hành động bất chính như hối lộ, mua bán bằng cấp, địa vị… Sau cùng, những con Mộc Tinh này tìm mọi mánh khóe chính trị, để bán đứng Quê Hương cho ngoại bang, cho đế quốc thực dân, từ Âu Tây như Mỹ và Pháp, cũng như từ phía Bắc như Nga Sô và Trung Cộng…
 
·        Loại Yêu Tinh thứ hai mang tên là Ngư Tinh, có nghĩa là “con Cá ăn thịt người”. Thay vì nuôi sống Anh Chị Em Đồng Bào, loại Ngư Tinh này chỉ nhả ra trong môi trường sinh thái của Quê Hương, nhiều loại độc tố, làm ô nhiễm những quan hệ giữa người với người, như chia rẽ hận thù giữa ba Miền Nam, Bắc Trung, giữa tôn giáo này với tôn giáo khác, giữa miền núi và vùng đồng bằng…
 
·        Loại Yêu Tinh thứ ba có danh hiệu là Hồ Tinh. Đây là những con chồn lưu manh hay là những con cáo độc ác. Ban ngày, chúng nó ẩn núp trong những hang động u tối và quanh co. Ban đêm, mang mặt nạ người, chúng nó đi vào trong các khu phố hoặc thôn xóm đông dân cư, để bắt cóc đàn bà và con nít, đem về hãm hiếp hay là lạm dụng, dưới nhiều hình thức khác nhau.
 
·        Loại Yêu Tinh thứ tư đã từ từ xuất hiện trên những nẻo đường của Quê Hương, sau khi Lạc Long Quân và Bà Âu Cơ từ giã Cõi Đời này. Đó là hai con Yêu Tinh “Sơn Tinh và Thủy Tinh”. Thực ra, trước khi trở thành Tinh Yêu, Sơn và Thủy là Anh Em ruột thịt. Cả hai đều có tài năng xuất chúng. Tuy nhiên, theo lời nhận xét của Thi Sĩ Nguyễn Du, “Chữ Tài liền với chữ Tai một vần”, bởi vì trong tâm hồn, không có Thiện Căn, không có Ánh Sáng và Hơi Ấm của Trời. Khi hai con Yêu Tinh này đối đầu với nhau, chỗ ấy nảy sinh ra xung đột và hận thù, bạo động và chiến tranh, chết chóc và lầm than. Trong Lịch Sử của Nước Nhà, hai con Yêu Tinh này đã một thời gây ra tai nạn Nam Bắc phân tranh, biên giới Sông Gianh, Vĩ Tuyến 17.
 
Sau hơn bốn nghìn năm văn hiến, kể từ ngày Lạc Long Quân lập Nước và dựng Nước, bốn hiểm họa trên đây không bao giờ nhạt nhòa và tàn phai. Bốn con Yêu Tinh trên đây càng ngày càng lớn mạnh. Vào Thời Đại Nghìn Năm Thứ Ba, bốn con Yêu Tinh ấy đã len lõi nằm vùng, trong đáy sâu quả tim của tất cả mọi người chúng ta, không trừ sót một ai, đối với người Việt Nam ở trong Nước cũng như đối với người Việt Nam sinh sống ở Nước Ngoài. Chúng ta đã tiếp thu, hội nhập và phát huy thế nào bài học Bao Dung của Cha Ông và Tổ Tiên? Quí vị và quí bạn đã và đang giải quyết thế nào vấn nạn ấy, cho chính mình, cho người khác và nhất là cho con cháu và các thế hệ giới trẻ trong tương lai?
 
***
 
Phần Thứ Ba
Chuyển biến những Chướng Ngại lớn lao trên con đường BAO DUNG của chúng ta?
 
 
Trong phần vừa rồi, tôi đã cố gắng liệt kê một cách can đảm và vắn gọn, nhưng khá đầy đủ và trung thực, những vấn đề xảy ra, khi hai người Việt Nam sống chung và làm việc với nhau. Một cách đặc biệt trong môi trường chính tri và xã hội.
 
Trong phần thứ ba còn lại này, tôi không có tham vọng hảo huyền là đề nghị từ ngoài hay là trình bày từ trên, phương thức hóa giải những vấn đề bế tắc của chúng ta. Mỗi người ở trong cũng như ngoài Nước có trách nhiệm khám phá Con Đường Bao Dung cho bản thân và cuộc đời trưởng thành của mình. Phần tôi, trong khuôn khổ của một bài chia sẻ, tôi chỉ muốn bập bẹ và cưu mang một Giấc Mơ Luyện Vàng, trong đáy sâu của tâm hồn.
Trong giấc mơ ấy, tôi thấy trước mặt tôi, hai người Việt Nam như hai hình tròn không đồng tâm, đứng tách rời và biệt lìa  ra khỏi nhau, không có một vùng giao tiếp với nhau, cho dù nho nhỏ, rất nhỏ, nhỏ như một chấm hay là một phết.
 
Nhìn xong, tôi ngồi xuống khóc nức nở, khóc lớn tiếng, khóc như một trẻ thơ và không biết phải làm gì, để cho hai vòng tròn có thể gặp nhau.
 
Chính lúc ấy, Mẹ Âu Cơ hiện hình, dạy tôi đưa ra hai tay, cầm hai vòng tròn, từ từ đem lại gần nhau và tạo ra một vùng tiếp cận hay là tiếp giáp. Theo lời giải thích của Mẹ, bao lâu hai anh chị em, cho dù ruột thịt đến độ nào chăng nữa, chưa có một vùng tiếp cận còn gọi là vùng trung gian hay là vùng học tập ở giữa, hai người không thể cùng nhau thực hiện từng bước Con Đường Bao Dung Với Nhau, Nhờ Nhau và Cho Nhau.
 
Sau đó, Mẹ Âu Cơ cứ nhấn mạnh lui tới một nhận xét: Hai người Anh Chị Em Đồng Bào, tự bản chất làm người, phải KHÁC BIỆT đối với nhau, giống như TRỜI và BIỂN. Nhờ những nét khác biệt ấy, hai người mới có cơ may BỔ TÚC, ĐÓNG GÓP và KIỆN TOÀN cho nhau, làm nên những ĐẠI SỰ cho bản thân và cuộc đời, cho Quê Hương và cho Nhân Loại.
 
“Ánh mắt con là cả một Bấu Trời,
“Bàn tay con huyền nhiệm thấu tầng mây,
“Bước chân con gieo Hạnh Phúc cho Đời,
“Quả tim con là nguồn suối không bao giờ cạn vơi”.
 
Cho nên, hỡi con, để sáng tạo Con Đường Bao Dung, con hãy lắng nghe Trời, lắng nghe Đất, lắng nghe Biển Cả, lắng nghe Núi Sông. Tất cả là Bài Học Vô Tận. Tất Cả là Tiếng Nói của Tình Thương. Tất cả là GIA SẢN của Cha Ông và Tổ Tiên…
 
    
 
 
*
               
 
2. Con Đường BAO DUNG bắt đầu từ…
Thái độ biết Lắng Nghe
 
 
Nhằm giải quyết những vấn đề đang xảy ra đó đây trong lòng Quê Hương, chúng ta cần can đảm ngồi lại với nhau và đặt ra cho nhau một cách trung thực câu hỏi cơ bản trong cuộc sống Làm Người:
 
"Phải chăng chúng ta biết lắng nghe và chấp nhận nhau?"
 
Để giúp mỗi người tìm ra câu trả lời cho bản thân và cuộc đời, bài chia sẻ này sẽ lần lượt khảo sát những vấn nạn sau đây:
 
- Lắng nghe có nghĩa là gi?
- Lắng nghe để làm gì?
- Chúng ta sẽ gặp những cạm bẫy nào, khi lắng nghe?
- Ai là người anh chị em thực sự cần được chúng ta lắng nghe?
 
 
***
 
 
1. Ý NGHĨA CỦA LẮNG NGHE
 
Sách vở và tài liệu đề cập vấn đề lắng nghe, thường nhấn mạnh một số động tác cụ thể có ý nghĩa sau đây:
 
1.1- Lắng nghe không phải chỉ là nghe.
 
Hẳn thực, trong cuộc sống, vô số nhiễu động ngày ngày bao vây chúng ta. Chúng cưỡng bức chúng ta nghe. Nhưng không ai tìm cách lắng nghe những nhiễu loạn ấy. Chúng ta còn tìm cách lánh xa, chạy trốn.
 
1.2- Để có thể lắng nghe người anh chị em, thái độ và tác phong của chúng ta là im lặng, ngồi xuống, trân quí con người của họ.
 
Nói cách khác, khi chấp nhận ngồi vào bàn với nhau, lắng nghe nhau một cách trân trọng, chúng ta đã bắt đầu coi nhau như anh chị em ruột thịt, cho dù khoảnh khắc ấy chỉ mong manh, thoáng qua, nhạt nhòa.
 
1.3- Càng yêu quí một người, chúng ta càng dễ dàng lắng nghe những lời trao đổi, chia sẻ, trình bày của người ấy.
 
1.4- Trái lại, khi quan hệ giữa chúng ta và người ấy bắt đầu giảm sút, suy đồi, đi vào ngõ cụt... khả năng lắng nghe của chúng ta tự khắc bắt đầu biến chất và thoái hóa.
 
Cũng vậy khi một người không gây được thiện cảm nơi chúng ta, vì bất cứ lý do gì, điều họ nói ra có thể là những điều chướng tai, nhức óc cho chúng ta.
 
Về phần chúng ta, trong những hoàn cảnh tương tự, chúng ta dễ dàng bóp méo, xuyên tạc nội dung phát biểu của họ.
 
1.5- Trước một người có thái độ và diện mạo thiện cảm, tự nhiên chúng ta có xu thế lắng nghe họ một cách dễ dàng.
 
1.6- Khi tâm hồn chúng ta nặng trĩu những lo âu, trầm cảm, bực bội, tức giận... khả năng lắng nghe của chúng ta mất chất lượng bén nhạy.
 
Thái độ tiếp nhận của chúng ta cũng giảm suy, mai một, cùn mòn rất nhiều. Khi có những trường hợp khổ đau tràn ngập, lý trí bị suy sụp, con người chúng ta không còn sáng suốt, minh mẫn. Các giác quan cũng do đó bị hạn chế và tê liệt.
 
Trong những tình huống như thế, thay vì lắng nghe, chúng ta trở nên lơ là, lảng trí, "mầt hồn, lạc vía". Theo ngôn ngữ của Thiền học, chúng ta không còn có mặt trong hiện tại, ở đây và bây giờ. Chúng ta đánh mất chính mình. Tình trạng loạn động này rất thường xảy ra trong cuộc sống náo nhiệt của thế giới ngày hôm nay.
 
1.7- Khi lắng nghe ai một cách thích thú thực sự, chúng ta dễ dàng thiết lập những quan hệ hài hòa, tích cực, xây dựng với người ấy. Ngược lại, vì chúng ta thiếu chăm nom, nuôi dưỡng khả năng này, bao nhiêu quan hệ giữa người với người, cho dù tốt đẹp trước đây trong quá khứ gần và xa... có thể gãy đổ tan tành… cơ hồ một cánh đồng lúa mùa, sau một trận bão lụt tàn phá, hủy hoại.
 
Vì lý do này, không gì có thể thay thế tác phong và thái độ lắng nghe, nếu chúng ta có kỳ vọng kiên định xây dựng, vun đắp, khai triển những quan hệ tiếp xúc, trao đổi giữa chúng ta và người khác.
 
Trong tinh thần này, lắng nghe là một của ăn tâm linh khả dĩ nuôi sống con người. Đó cũng là một quà tặng vô giá, mà con người có trách nhiệm dâng hiến cho nhau, để giúp nhau làm người, trong cuộc sống hằng ngày.
 
 
2. LẮNG NGHE VÀ CHIỀU KÍCH LÀM NGƯỜI
 
 
Cũng trong chiều hướng này, khi tôi lắng nghe ai với trọn con người, một đàng tôi vươn tới chiều kích làm người. Đàng khác, tôi đãi ngộ, cư xử con người được tôi lắng nghe, như một con người giống như tôi, ngang hàng tôi, có quyền làm chủ thể phát biểu, diễn tả, bộc lộ mình ra ngoài.
 
Lề lối giáo dục ngày nay đang nhấn mạnh và phát huy cách thức đãi ngộ ấy. Thậm chí một đứa bé mới sinh ra, khi chưa sử dụng ngôn ngữ "có lời" của môi trường, đã "mặc khải mình" dưới nhiều hình thức khác nhau như tiếng khóc, nụ cười, liếc nhìn, chân tay vận động... Hơn ai hết, nếu người mẹ không lắng nghe đứa con của mình trong địa hạt này, từ những ngày đầu tiên, em đã bị hụt hững một phần nào trên cơ sở làm người. Không được lắng nghe, ở đây trong quan hệ mẹ con, em sẽ không học được bài học lắng nghe một cách nhuần nhuyễn, thành thục, trong quan hệ giữa người với người sau này.
Bác sĩ tâm thần René Spitz đã đưa ra ví dụ về "nụ cười sinh lý", để minh họa những điều vừa được trình bày.  Một đứa bé mới lọt lòng mẹ, một tuần hay vài ba ngày sau, đã mĩm cười trong giấc ngủ. Đó là nụ cười sinh lý, một phản ứng tự phát, bộc lộ tình trạng của đứa trẻ được thỏa mãn về mọi mặt như lương thực, y phục, nhiệt độ, tiêu hóa, không khí... Theo cách giải thích bình dân của bà mẹ Việt Nam, đứa trẻ mĩm cười với "Bà Mụ, Bà Tiên" đang hiện về dạy dỗ, trao đổi, tiếp xúc.
 
Phải đợi đến ít nhất ba bốn tháng sau, bà mẹ hay là một thành viên khác trong gia đình có phận sự chăm sóc thường xuyên, liên tục cho đứa bé, mới có khả năng trao đổi nụ cười với em ấy khi tiếp xúc, bồng ẵm, vui đùa, xoa bóp, vuốt ve... Thiếu những quan hệ tiếp xúc liên tục "mặt nhìn mặt", "da chạm da", đứa bé sẽ thiếu nụ cười. Hay là nụ cười của em sẽ xuất hiện rất chậm trễ, sau bảy hoặc tám tháng, như chúng ta có thể quan sát nơi những đứa trẻ trong các cô nhi viện quá đông, quá lớn, thiếu công nhân viên có khả năng và chất lượng chăm sóc và nuôi nấng.
 
Nụ cười như hạt lúa đã có mặt từ những ngày đầu tiên trong ruộng đồng da thịt, cơ thể của đứa bé. Nụ cười sinh lý ấy chỉ lớn lên, nở hoa, sinh hạt, trở thành "nụ cười xã hội", để hai mẹ con có khả năng tiếp xúc, trao đổi, cùng nhau sung sướng, hân hoan, hạnh phúc... chỉ khi nào bà mẹ biết chăm sóc, vun trồng, tưới tẩm, nuôi dưõng hạt giống ấy.
 
Nói một cách vắn gọn, nếu người mẹ không lắng nghe con, bà không hái được bông hoa "nụ cười xã hội" trên khuôn mặt của con.
 
Cũng vậy, trong địa hạt ngôn ngữ, nếu bà mẹ không biết lắng nghe con chuyện trò, líu lo, ca hát, để hưởng nhận hạnh phúc đang trào dâng trong cõi lòng làm mẹ của mình, đứa bé sẽ chậm nói và có khi không học nói.
 
Cái gì xảy ra giữa hai mẹ con trong hai năm đầu đời, cũng đang xảy ra trong quan hệ giữa người với người. Người mẹ không chờ đợi, đòi hỏi đứa con phải cười phải nói. Bà chỉ đơn phương lắng nghe như bà ăn, bà thở. Nhờ vậy, con bà sẽ cười, sẽ nói, theo nhu cầu và tốc độ tự nhiên của mình.
 
Trong quan hệ giữa người với người, cũng có những định luật tương tự: khi trong môi trường, cộng đoàn, quê hương và nhân loại, có những tâm hồn biết lắng nghe không chờ đợi, đòi hỏi, đặt điều kiện, phê phán, tố cáo... tự khắc ở phía bên kia, đằng trước, sẽ có những con người đang cố quyết trở thành người.
 
Bà mẹ vun trồng trong bốn, năm tháng, mới có thể gặt hái đóa hoa nụ cười trên khuôn mặt của đứa con. Có lẽ chúng ta phải vun trồng mảnh đất lắng nghe một cách liên tục trong vòng 100 năm, họa may mới gặt hái được "Đức Bụt", hay là "Một Con Người Công Chính" đang tái lâm trên Quê Hương, Đất Nước. Nếu chính bản thân tôi không làm bà mẹ lắng nghe, tôi thắp hương chờ đợi ai? Trên cơ sở nào, tôi đòi hỏi kẻ khác, phía bên kia phải làm... đang khi đó chính tôi đang ù lì, bị động, vô cảm?
 
 
 
3. LẮNG NGHE ĐỂ CHIA SẺ VÀ ĐỒNG HÀNH
 
 
Thái độ hay tác phong lắng nghe đòi hỏi chính chúng ta hãy im lặng, nghĩa là tạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng, để người đối diện có thể nói ra tất cả những điều họ cần bộc lộ, chia sẽ.
 
Thế nhưng, im lặng trong nhiều trường hợp có liên hệ đến đời sống xã hội, có thể mang sắc thái và ý nghĩa tiêu cực như "khinh thị, không coi trọng, tự cao, đóng kín cửa lòng...". Phải chăng nhiều bà vợ đã than trách chồng mình "tránh né, thiếu trao đổi, trốn mình trong bốn bức tường im lặng cao ngạo hay là lãnh đạm"?
 
Nhằm giải tỏa một số vấn đề căng thẳng trong quan hệ vợ chồng, người nữ thường được yêu cầu "nâng cao chất lượng lắng nghe và giảm hạ liều lượng phát biểu. Vượt quá số lượng 3 ý tưởng, khi trao đổi, chia sẻ,  những điều bà diễn tả đã bắt đầu bị sàng lọc, xuyên tạc, bóp méo, biến chất". Bà mẹ nào cũng đã hiểu rõ: khi dọn cho ai ăn quá nhiều, người ấy sẽ có nguy cơ "trúng thực".
 
Cũng trong chiều hướng tạo hòa khí và phát huy quan hệ tốt đẹp, người chồng được yêu cầu "có mặt, đóng góp, tham dự".
 
Im lặng chỉ biến thành "vàng“, khi họ biết lưu tâm, đặt trọng tâm vào người phát biểu.
 
Im lặng chỉ trở thành lắng nghe; và lắng nghe chỉ mang bộ mặt và tâm hồn im lặng, khi chúng ta đón nhận và chấp nhận người trước mặt. Chúng ta trân trọng, tìm hiểu, ghi nhận từng lời họ nói ra. Còn hơn thế nữa, chính con người toàn diện của họ trở thành quan trọng cho chúng ta.
 
Theo cách giải thích của tâm lý ngày nay, lắng nghe ai một cách thực sự, là "đi vào bên trong nội tâm" của người ấy, chia sẻ, đồng hành, đồng cảm với họ. Sở hữu hóa nghĩa là biến thành của mình "cái khung qui chiếu" của họ.
 
Thuật ngữ này có vẽ kiểu cách, phiền toái, phức tạp. Nhưng thực chất và ý nghĩa của nó rất đơn giản. Khám phá khung qui chiếu của một người là lắng nghe họ, một cách rất thành tâm và cố quyết trả lời cho chính mình, những câu hỏi sau đây:
 
   *  Trong những điều họ phát biểu, cái gì là sự kiện hoàn toàn khách quan có thể được kiểm chứng?
 
·    Khi họ phát biểu, họ trình bày cho tôi những cảm xúc và xúc động nào? Họ đau nhói ở đâu? Họ phập phồng, ngột ngạt ở chỗ nào?
 
·    Từ địa hạt xúc động có liên hệ đến cơ thể và các hiện tượng sinh lý hóa, tôi bước qua lãnh vực tình cảm: để được lắng nghe, họ kêu tên và đặt tên cho tâm tình của mình như thế nào? Buồn, sợ, bực bội, bất mãn, tức giận, tuyệt vọng... đó là những loại ”thời tiết, khí hậu“, tạo nên nắng mưa trong tâm hồn của họ.
 
·    Sau đó tôi vươn lên bình diện thuyên giải, nhằm tìm hiểu: Qua những điều họ nói, họ có ý kiến gì về chính mình, về người khác, về cuộc sống...
 
Những ý kiến ấy mới xuất hiện hay là đã đóng lớp rêu rong từ bao nhiêu đời, từ những ngày thơ ấu? Phải chăng đó là những thành kiến, những kiến lập họ tiếp thu từ người khác, ở nơi khác, nhưng chưa bao giờ được khảo sát hay là cập nhật hóa một cách nghiêm chỉnh?
 
Nói cách khác, cái gì là dư luận, tiếng đồn? Cái gì là xác tín đặt cơ sở trên lý luận vững chãi? Cái gì là năng động do họ sáng tạo? Cái gì là bị động do người khác áp đặt cho họ? Và người khác ấy là ai, mang tên tuổi gì?
 
Ý kiến của họ là một kết luận dựa trên cơ sở khách quan vững vàng, đã được kiểm chứng? Hay ngược lại, đó còn là một giả thuyết mong manh tạm bợ? Phải chăng đó chỉ là một lời phán quyết hoàn toàn đơn phương, độc lộ, thiếu nền tảng?
 
Cuối cùng, khi lắng nghe người đối diện phát biểu về người khác, bất kể là người thân hay kẻ xa lạ, tôi cần tìm hiểu họ có những loại quan hệ nào với tha nhân: Hài hòa tích cực, hay là căng thẳng, xung đột? Họ đang nuôi dưỡng lập trường nào trong bốn loại lập trường tâm lý sau đây ?
 
Một:  Tao thắng mầy thua,
Hai:  Tao thua mầy thắng,
Ba:   Tao thua mầy thua,
Bốn: Tôi thắng, bạn thắng, chúng ta cùng
         thắng với nhau và nhờ vào nhau.
 
Nói tóm lại, "khung qui chiếu" của họ bao gồm những gì, trên năm bình diện khác nhau như: sự kiện khách quan, cảm xúc, tâm tình, kiến giải và quan hệ?
 
Để có thể khám phá bao nhiêu dữ kiện và tin tức cần thiết như vậy, chúng ta không thể không tìm hiểu, học tập và tôi luyện. Nhờ đó, chúng ta có thể đóng góp, xây dựng cuộc đời cho người khác.
 
Đi một buổi chợ còn học được một mớ khôn! Huống hồ, nếu chúng ta biết lắng nghe, một cách thành tâm và có tính khoa học, chúng ta sẽ nhận rất nhiều điều, trên bước đường làm người. Và sau khi biết nhận như vậy, chúng ta sẽ là những người biết cho.
 
 
 
4.  NHẬN VÀ CHO TRONG ĐỘNG TÁC
     LẮNG NGHE
 
 
Trong những ý nghĩa vừa được trình bày và quảng khai trên đây, phải chăng thái độ Lắng Nghe làm nên bản chất đích thực của tất cả những ai cố quyết làm người trong trời đất này? Và khi lắng nghe một người – cho dù người ấy nói hay hoặc nói dở, nói đúng hoặc nói sai, cao thượng hoặc tầm thường – chúng ta làm công việc gây ý thức cho họ nhận thức được rằng: cuộc đời đang CHO họ rất nhiều. Đến phiên họ, nếu họ tìm một người để cho; tìm một điều để cho; tìm một cơ hội để cho... lập tức họ trở nên giàu có. Họ đang làm một bà mẹ với hai bàn tay êm ái. Với nụ cười xinh đẹp. Với một liếc nhìn bao la, rộng lượng. Với một lời nói ấm áp, khích lệ. Với một tia ánh sáng nho nhỏ trong đôi mắt...
 
Khi lắng nghe với một thái độ nhận và cho như vậy, chúng ta không cần phải khẳng định lập trường "đồng ý" hay là "không đồng ý". Chúng ta đang ở trên bình diện Thương Yêu.
 
Thương yêu như vậy gồm có hai hơi thở ra vào là TỪ và BI.
 
   * TỪ là mang lại niềm hân hoan, phấn khởi.
   * BI là đồng cảm, chia sẻ những đắng cay, chua xót trong cuộc đời.
 
Đó là ý nghĩa sâu xa, mục đích cuối cùng, và đó cũng là giá trị cần được chúng ta thực thi và đeo đuổi, mỗi lần chúng ta lắng nghe một người anh chị em.
 
 
5.  NHỮNG Ý NGHĨA CHỦ YẾU
     CỦA LẮNG NGHE
 
 
Trong bản tóm lược sau đây, tôi liệt kê lại sáu ý nghĩa chủ chốt của tác phong lắng nghe:
 
Động tác thứ nhất: Khi lắng nghe, tôi giữ im lặng.
 
Động tác thứ hai: Tôi giữ im lặng là vì tôi đặt trọng tâm vào người đang nói và chia sẻ. Không những điều họ nói, chính toàn diện con người của họ là một giá trị quan trọng đối với tôi.
 
Động tác thứ ba: Khi lắng nghe, tôi không nhắm bày tỏ ý kiến đồng ý hay không đồng ý. Tôi học tập, tìm hiểu khung qui chiếu của người phát biểu. Đặc biệt tôi phân định một cách rành mạch rõ ràng đâu là sự kiện, đâu là tình cảm xúc động, đâu là kiến giải, đâu là lời phê phán.
 
Động tác thứ bốn: Khi lắng nghe và tìm hiểu như vậy, tôi giúp người phát biểu ý thức về bản chất đích thực và sâu xa của họ là cho và thương yêu, vì họ đang được thương yêu.
 
Động tác thứ năm: Để đánh giá chất lượng của tác phong lắng nghe, tôi dựa vào ba tiêu chuẩn: Một là sống trong hiện tại, để chú ý và lưu tâm người đang hiện diện với tôi. Hai là học tập, tìm hiểu. Ba là có mặt một cách vui thích và hứng thú, thay vì bày tỏ những xúc động nhàm chán và bực bội.
 
Động tác thứ sáu: Để có thể duy trì chất lượng của lắng nghe, mục đích cuối cùng mà tôi đeo đuổi là thương yêu. Thiếu động cơ này thúc đẩy, tôi không còn sống trung thực. Tôi đi vào con đường phê phán nhị nguyên.
 
 
6.  NHỮNG CẠM BẪY CỦA LẮNG NGHE
 
 
Lắng nghe với sáu động tác vừa được liệt kê, không phải là một công việc dễ dàng và tự nhiên. Một đàng, tôi phải thường xuyên tôi luyện. Đàng khác, tôi phải đánh giá một cách khoa học và sáng suốt, bằng cách đề phòng bốn cạm bẫy đang có mặt ở khắp nơi:
 
Cạm bẫy thứ nhất: Tôi cắt ngang, giành nói. Tôi vi phạm qui luật im lặng.
 
Cạm bẫy thứ hai: Tôi kết luận quá sớm. Tôi chưa nắm vững toàn bộ khung qui chiếu của người phát biểu. Lối nhìn của tôi còn quá phiến diện. Cho nên người đối diện cảm thấy mình bị hiểu lầm, không được lắng nghe một cách đích thực và trọn vẹn.
 
Cạm bẫy thứ ba: Tôi mơ mộng, nghĩ đến chuyện đã qua hay là chuyện chưa tới. Tôi không sống trong hiện tại.
 
Cạm bẫy thứ bốn: Thay vì im lặng, học hỏi, tìm hiểu đến nơi đến chốn, tôi lèo lái câu chuyện qua một hướng khác. Tôi đề nghị lề lối giải quyết, tôi phóng ngoại, giải thích, tôi phê phán, khen chê, lên mặt mô phạm, tôi bùng nổ, giận hờn, bực bội, la lối...
 
Nói tóm lại, vì tôi thiếu kỹ năng lắng nghe, tôi không biết giữ im lặng một cách thanh thản, hồn nhiên, dễ dàng và khéo léo. Từ đó, người phát biểu không có khả năng "mặc khải mình" như lòng họ chờ đợi, khao khát. Cũng vì vậy, họ chưa nhận ra bản chất đích thực sâu xa của mình là làm sứ giả của Tình Thương trong cuộc đời này.
 
Trái lại, khi cảm thấy mình được lắng nghe, nghĩa là được tiếp nhận và yêu thương, họ đã bắt đầu mở rộng con mắt tâm linh, và từ từ ý thức đến sứ mệnh làm người của mình là "Cho".
 
Hẳn thực, tôi đang CHO, chỉ vì tôi đã nhận lãnh rất nhiều, trong cuộc sống.
 
 
 
***
 
                                                    
 
3. Ý thức đến Ba nhân vật với bốn bộ mặt…
trong con người của chúng ta
 
 
Thể theo Phương pháp "Phân Tích những quan hệ đối tác" (Transactional Analysis) của Eric BERNE, mỗi lần chúng ta tiếp xúc và trao đổi với kẻ khác, trong bất kỳ hoàn cảnh và sinh hoạt nào, chúng ta có thể khoác vào mình một trong 3 nhân vật sau đây:
 
* Nhân vật thứ nhất được gọi tên là người Cha Mẹ
    (Viết tắt bằng chữ hoa là CM),
* Nhân vật thứ hai: người Trưởng Thành (TT).
*  Nhân vật thứ ba là người Trẻ Em (TE).
 
***
 
Mỗi nhân vật trên đây, tùy vào những nhu cầu khác nhau của sinh hoạt hiện tại, xuất đầu lộ diện dưới 4 bộ mặt khác nhau. Hai bộ mặt đầu được Eric BERNE đánh giá là tích cực, năng động (+). Hai bộ mặt sau có tính cách tiêu cực và tê liệt (-), khả dĩ tạo ra mọi vấn đề phiền toái, trong quan hệ giữa người với người.
 
 
I. Sau đây là 4 bộ mặt của người làm Cha Mẹ:
 
   1)  CM+ : Người Cha Mẹ sáng soi và hướng dẫn,
   2)   CM+ : Người Cha Mẹ nâng đỡ, tạo an toàn,
   3)   CM- :  Người Cha Mẹ độc tài, điều khiển tất cả,
   4)   CM- : Người Cha Mẹ bao che từ đầu chí cuối, hay là làm thay, làm thế tất cả.
 
 
II.  Người Trưởng Thành cũng có 4 bộ mặt khác nhau:
 
   1)   TT+ : Người Trưởng Thành đồng cảm, có khả năng chia sẻ qua lại, lối nhìn và xúc động của mình với những người sống hai bên cạnh,
   2)   TT+ : Người Trưởng Thành đồng hành, không những có khả năng phát biểu, đóng góp ý kiến của mình về một vấn đề, còn dấn thân nhập cuộc, bắt tay vào công việc với bạn bè, để thực hiện những chương trình đã được phác họa với nhau.
   3)   TT- : Người Trưởng Thành với những lối nhìn và thái độ lưỡng năng:
- Tao Hơn, Mày Thua,
- Tao Đúng, Mày Sai,
- Tao Tốt, Mày Xấu,
- Tao Chính, Mày Ngụy…
   4)   TT- : Người Trưởng Thành thu mình trong nếp sống bít kín và xé lẻ.
 
 
III. Tùy vào những năm tháng được cha mẹ nuôi nấng và giáo dục, người Trẻ Em cũng có thể trình bày 4 bộ mặt khác nhau:
 
   1)  TE+ : Người Trẻ Em hiếu kỳ, thích học hỏi, sau bao nhiêu năm được cha mẹ, thầy cô  sáng soi và hướng dẫn đúng lúc, đúng liều lượng, đúng giai đoạn phát triển, đúng nhu cầu và sở thích.
   2)  TE+ : Người Trẻ Em hồn nhiên, yêu đời, hạnh phúc, biết vui đùa và hòa mình với bạn bè cùng lứa tuổi, sau bao nhiêu năm được cha mẹ lắng nghe, tôn trọng, khích lệ, tạo điều kiện thuận lợi, và nhất là có mặt và biết đồng cảm, vui đùa với con.
   3)  TE- : Người Trẻ Em Phản Động, nếu cha mẹ quá độc tài, điều khiển từ A đến Z.
   4)  TE- : Người Trẻ Em Bị Động và Lệ Thuộc, nếu được cha mẹ phục vụ tối đa và nương chìu quá đáng, bằng cách làm thay và làm thế, trong tất cả mọi vấn đề và lãnh vực.
 
                                     ***
 
Xuyên qua lối nhìn của Eric BERNE vừa được trình bày, để có thể nhận định và đánh giá những quan hệ tương tác đang được kết dệt giữa hai người, chúng ta cần khảo sát hai chiều hướng:
 
·        Trong chiều hướng thứ nhất, người đưa tin đang đóng vai trò của nhân vật nào: CM, TT hay là TE ? Ngược lại, nhân vật nào xuất hiện để phản ứng hay là sáng tạo câu trả lời, sau khi tiếp nhận tin tức? 
·        Trong chiều hướng thứ hai, mục đích cuối cùng mà chúng ta nhắm tới, để thực hiện, trong những quan hệ qua lại hai chiều, phải chăng là đồng hành và đồng cảm, xây dựng và đóng góp cho nhau ? Hay là chúng ta đang khoác vào mình những vai trò đàn áp, ức chế, thậm chí với con cái và những người thân yêu của chúng ta ? Có bao giờ chúng ta biết giật mình, thức tỉnh, để nhận chân được rằng: chính chúng ta đang biến con cái hay là những kẻ đang sống hai bên cạnh, thành những nhân vật phản lọan, chống đối hay là hoàn toàn bị động và lệ thuộc, trong cuộc đời làm người ?
 
***
 
Nhằm bổ túc và kiện toàn lối nhìn của Eric BERNE, trong thể thức đánh giá những quan hệ xã hội, tác giả KARPMAN đề nghị hai loại tam giác:
 
Tam giác thứ nhất dẫn đưa chúng ta vào vùng tranh chấp, xung đột, hận thù, vong thân và vong bản. Tam giác này ở giữa 3 con đường đan chéo vào nhau:
 
·        Trên con đường số một, tôi hành động như một tên thực dân, luôn luôn mang ý đồ chiếm đất, giành dân, đàn áp và bốc lột, đương khi miệng lưỡi không ngừng hô hào nào là nhân nghĩa, đại đồng, nào là công bình, bác ái…
 
·        Trên con đường số hai, tôi phàn nàn và ta thán, tưởng tượng mình là nạn nhân và mang tâm trạng đầu hàng, buông xuôi, bỏ cuộc, lệ thuộc và bị động.
 
·        Trên con đường số ba, tôi là chiếc loa phóng thanh, khoác vào mình phần vụ "nói thay, nói thế". Một cách vô tình hay hữu ý, tôi lấn át tiếng nói của mọi người khác, đang chung sống trong môi trường xã hội và Quê Hương. Rốt cuộc, tôi chỉ mang mặt nạ để phát ra một tiếng nói quảng cáo và tuyên truyền, hoàn toàn rỗng tuếch và vô ý thức.
 
Tam giác thứ hai bao gồm 3 thái độ làm người biết đồng cảm và đầy lòng bao dung:
·        Thái độ thứ nhất là khám phá giá trị và khả năng của những người đang có những quan hệ tương tác với chúng ta.
 
·        Thái độ thứ hai là lắng nghe và tôn trọng tiếng nói của kẻ khác, cho phép họ có ý kiến KHÁC và cách làm KHÁC, khả dĩ bổ túc và kiện toàn chúng ta…
 
·        Thái độ thứ ba là tha thứ và bao dung, khi kẻ khác sai lầm, đồng thời giúp họ biến sai lầm thành một bài học cao quí cho chính bản thân mình và cho những người đang chung sống. Nói khác đi, sai lầm có thể tạo điều kiện và cơ hội để chúng ta ý thức đến con người của mình và tìm cách vươn lên… trên con đường thành người và phục vụ Đất Nước.
 
***
 
                 
Vậy, dựa vào những phân tích và lối nhìn trên đây, bạn đang là Nhân Vật nào, với Bộ Mặt nào, trong mỗi quan hệ tiếp xúc và trao đổi qua lại với từng người Anh Chị Em Đồng Bào ?
 
 
****
 
 
 
 
4. Tìm cách hóa giải những xúc động…
trong những quan hệ của chúng ta
 
 
Bằng cách này hay cách khác, dưới nhiều hình thức trá ngụy, xúc động luôn luôn có mặt, khi hai người bắt đầu thiết lập những quan hệ tiếp xúc và trao đổi với nhau.
 
Xúc động thường được so sánh như một bản "dự báo thời tiết" của nội tâm: Thời tiết cần được hiểu ở đây là những tâm trạng lo sợ hay buồn phiền, tức giận, bực bội hay là hứng khởi, vui tươi và hạnh phúc…
 
Theo lối nhìn của tác giả John GRAY, nếu chúng ta biết lắng nghe và coi trọng những "tiếng nói không lời" ấy, chúng ta sẽ dần dần khám phá 5 sứ điệp hay là 5 tầng lớp khác nhau của nội tâm, đang giao thoa chằng chịt và nuôi sống lẫn nhau: 
 
*   Tầng lớp thứ nhất bao gồm những xúc động bực bội, tức giận. Những xúc động này có phần vụ nhắn gởi cho những người đang sống chung quanh, một sứ điệp cầu cứu: "Tôi từ chối, phản đối, vì tôi không được lưu tâm và coi trọng. Có người đang xâm lấn vào lãnh vực sở hữu, cũng như quyền quyết định và chọn lựa của tôi".
 
*   Tầng lớp thứ hai bao gồm những xúc động cô đơn, buồn bực, chán nản, thất vọng. Lời kêu cứu ở đây gồm có: "Tôi quá lẻ loi, đơn chiếc… trong cuộc đời. Tôi cần những bàn tay nâng đỡ, những lời nói ủi an, những khuôn mặt hiện diện".
 
*  Tầng lớp thứ ba: "Tôi đang lo sợ, bất an và bất ổn, khiếp đảm và kinh hoàng. Ai sẽ nâng đỡ, chở che, đùm bọc, bênh vực tôi, trước những hiểm nguy, tai họa đang có mặt ở khắp nơi ?"
 
* Tầng lớp thứ bốn: "Tôi đã làm những điều sai trái. Tôi hối hận. Mặc cảm tội lỗi đang đè nặng và nghiền nát tôi. Ai có thể giải thoát tôi khỏi những tù ngục ngột ngạt này ?"
 
* Tầng lớp thứ năm: "Tôi cần có người lại gần, hiện diện với tôi… để tạo quan hệ yêu thương qua lại hai chiều. Ai có thể mang đến cho tôi hạnh phúc và thứ tha, hiểu biết và đồng cảm ?"
 
Nếu một trong năm tầng lớp trên đây bị tổn thương, ức chế, cấm cản, hay là không được đáp ứng và thỏa mãn, toàn bộ đời sống xúc động sẽ dần dần bị khô héo và tê liệt. Hẳn thực, nếu tôi không biết giận, chẳng hạn vì cha mẹ, thầy cô cấm cản hoặc trừng phạt, tôi cũng sẽ chẳng bao giờ biết được thế nào là yêu, là ghét. Nếu không cảm nghiệm được lo sợ là gì, làm sao tôi hiểu được thế nào là an bình, sung sướng và hạnh phúc ?
 
Và cứ như vậy, nếu toàn bộ năm tầng lớp xúc động bị tàn lụi và héo úa, chắc chắn khả năng tư duy của tôi cũng nghèo nàn, cằn cỗi, tàn tạ. Tiếp theo sau, toàn thể thực chất con người của tôi cũng bi suy thoái một cách trầm trọng.
 
Hẳn thực, không có những xúc động thúc đẩy, tạo hứng khởi, đốt lên ngọn lửa quyết tâm và nhiệt tình, tôi tìm ở đâu đầy đủ nghị lực và năng động, để xác định những hoài bảo hay là chuyển biến mộng mơ thành hiện thực trong cuộc đời ?
 
Những nhận xét trên đây cũng có thể áp dụng cho mỗi triệu chứng đang có mặt nơi trẻ em có nguy cơ tự kỷ. Sở dĩ em đang sống bít kín, không dám tiếp xúc với một ai, phải chăng vì em đang lo sợ, kinh hoàng ? Nếu chúng ta xô đẩy, ép buộc em phải đi ra, tiếp xúc, học tập… chúng ta chỉ gia trọng những phản ứng khép kín của em. Thay vào đó, với kinh nghiệm nghề nghiệp và khả năng chuyên môn, chúng ta có thể sáng tạo những bài học nào, khả dĩ mang đến cho em, những cảm nghiệm an toàn và tự tin ?
 
Em đang thét la, bùng nổ, tấn công những bạn bè hai bên cạnh hay là có những hành vi tự hủy, như cắn mạnh vào tay, hay là đập đầu vào vách tường. Thay vì cấm cản, tại sao chúng ta không tổ chức những trò chơi sư phạm "cho phép em ấy giận một cách khác" ? Làm như vậy là chuyển biến tức giận thành một bài học hữu ích cho cuộc đời.
 
Khi giam hãm mình suốt ngày trong những trò chơi "lắp ráp, lặp đi lặp lại", phải chăng em đang tìm cách trở lui với những chu kỳ vui thích, an toàn và thoải mái, khi còn sống trong tử cung của mẹ. Chính lúc ấy, chúng ta có thể mang ra nhiều hình ảnh khác nhau của mẹ, cho em sắp xếp. Hay là chúng ta mở ra một bản nhạc êm dịu và thao tác một vũ điệu, với em, bên cạnh em. Nếu em chấp nhận "nhún nhảy", như chúng ta và với chúng ta, em đã bắt đầu kiến tạo quan hệ qua lại hai chiều. Nói khác đi, em đã NHÌN và bắt chước chúng ta.
 
Nói tóm lại, ở bên dưới mỗi triệu chúng, chúng ta sẽ tìm gặp một xúc động. Mỗi xúc động ẩn giấu ở dưới tầng sâu của nội tâm, một nhu cầu. Sau khi khám phá nhu cầu, chúng ta sáng tạo những thể thức đáp ứng. Qua những cách làm ấy, chúng ta đang phát huy những quan hệ đồng cảm với trẻ em, và sáng tạo cho em con đường đi ra với thế giới bên ngoài.
 
Tiến trình dồn nén, ức chế…
 
Thay vào những bước đi nhón nhén, từ tốn và kiên nhẫn, như vừa được mô tả và phác họa, chúng ta có thể nôn nóng, muốn "ăn nhanh, ăn vội, ăn liền", như trong các tiệm "Mác-đô-nan kiểu Mỹ". Cho nên, chúng ta không ngần ngại sử dụng những "phương pháp" ức chế, nhồi nhét, áp đặt. Bằng cách này hay cách khác, chúng ta ép buộc trẻ em "phải tiến bộ một cách nhanh chóng". Phải biết nói. Phải tẩy xóa những "rối lọan hành vi". Phải trở về với "nếp sống bình thường".
 
Với bao nhiêu mệnh lệnh "Phải, Cần, Cấm…", chúng ta đã vô tình sản xuất những trẻ em "bị ức chế và dồn nén".
Theo cách giải thích của tác giả John GRAY, tâm trạng bị dồn nén là kết quả cuối cùng, trong đời sống tương tác xã hội, sau khi chúng ta bị cấm cản, trừng phạt, không có phép làm những gì chúng ta quyết định và chọn lựa.
 
-         Trong công đoạn thứ nhất, chúng ta không có phép từ chối, nói KHÔNG, không có phép bộc lộ quan điểm bất đồng (Resistance).
-         Trong công đoạn thứ hai, chúng ta không có phép bày tỏ ra ngoài nỗi niềm oán hờn, tức giận (Resentment).
-         Trong công đoạn thứ ba, chúng ta không có phép loại trừ, bỏ đi, cắt đứt (Rejection).
-         Trong công đoạn thứ tư, chúng ta mất hết khả năng khẳng định con người đích thực của chúng ta. Chúng ta trở thành "gỗ đá" hay là "hình thì còn, bụng chết đòi nao". Lúc bấy giờ, giá trị làm người, lý tưởng, tinh thần trách nhiệm, lòng vị tha… chỉ là những nhãn hiệu hoàn toàn thiếu nội dung (Repression, Inhibition).
 
Chính vì bao nhiêu lý do vừa được trình bày, giáo dục có nghĩa là gì, khi chúng ta ép buộc và áp đặt tất cả từ trên và từ ngoài cho trẻ em? Làm người phải chăng là ngày ngày trở nên một chủ thể có khả năng chọn lựa và quyết định một giá trị, một hướng đi, một lý tưởng ? Tuy nhiên, bài học chọn lựa và quyết định này được ai dạy và được dạy làm sao, trong môi trường giáo dục và văn hóa của Quê Hương ?  
 
Diễn tả xúc động  là một bài học cần học đi học lại 
 
Để có thể dạy trẻ em thành người, người có trách nhiệm – như cha mẹ trong môi trường gia đình –  hãy bắt đầu học cách diễn tả những xúc động của chính mình, một cách hồn nhiên và thanh thản, bình tỉnh và trực tiếp.
 
Từ ngày sinh ra đến lúc lên 5 tuổi, trẻ em học tập bằng cách bắt chước, lặp lại, vọng lại hay là phản ảnh những gì đang có mặt trong thái độ, tác phong và ngôn ngữ của cha mẹ, xuyên qua những trò chơi vui nhộn, những câu chuyện bập bẹ và líu lo. Một cách đặc biệt, hai mẹ con là "hai chiếc bình thông đáy". Cho nên mẹ đầy, thì tự nhiên con đầy. Mẹ vui tươi, hạnh phúc, năng động, thì đứa con  phản ảnh nụ cười của mẹ, nét mặt của mẹ, tâm hồn của mẹ, tính tình dễ thương của mẹ.
 
Chính vì những lý do vừa được trình bày, sau đây tôi mạo muội giới thiệu một số kỹ thuật nhằm giúp cha mẹ và người giáo viên diễn tả và bộc lộ ra bên ngoài, giữa vùng ánh sáng, tất cả nội tâm của mình, với bao nhiêu thời tiết thay dổi thường xuyên "mai mưa, trưa tạnh, chiều dông…". Làm được như vậy, quí vị sẽ có khả năng chuyển hóa những tâm trạng u buồn, trầm cảm, kiệt quệ… thành những quà tặng cho con cái và trẻ em. Phải chăng đó là bài học cao trọng và quí giá, trên tất cả mọi bài học khác ?
 
Kỹ thuật phản ảnh, khi xúc động vừa chớm nở
 
Khi hai vợ chồng hay bạn bè thiết thân đang chuyện trò với nhau, bỗng nhiên một người cảm thấy những phản ứng khó chịu, bất đồng và bất mãn hiện hình trong nội tâm. Chính lúc ấy, kỹ thuật phản ảnh là phương tiện tốt hảo, để hai người trực diện với những quan hệ của mình, một cách thành tâm và can đảm.
Trong thực tế, qua bao nhiêu đời, chúng ta thường đề xuất câu tục ngữ đã được nằm lòng: "Một câu nhịn, chín câu lành". Kỳ thực, thái độ nhịn nhục ấy đang nung nấu, chờ đợi một nơi khác, một lúc khác, hay là một người khác… để bùng nổ. Một xúc động bị kiểm duyệt và dồn nén như thế, sẽ không bao giờ tan biến, Trái lại, khi nội tâm bị ô nhiễm, thể theo định luật của "bình thông đáy", quan hệ giữa hai người sẽ từ từ suy thoái.
Với kỹ thuật phản ảnh, chính thành viên đang cảm nghiệm xúc động, hãy thú nhận và yêu cầu: "Nghe em nói điều ấy, anh thú thật với em là anh bắt đầu bực bội. Anh xin em hãy lắng nghe và phản ảnh, để giúp cho anh nghe lại chính mình".
 
Phần Một: Người A dùng sứ điệp Ngôi Thứ Nhất, để diễn tả xúc động của mình. Mỗi lần, lời phát biểu chỉ thu hẹp trong một câu vắn gọn mà thôi.
 
Người B chỉ phản ảnh, nghĩa là làm tiếng vọng, bằng cách lặp lại y nguyên câu nói của A, thậm chí đại danh từ ngôi thứ nhất, như tôi, em, mình…
Ví dụ:
-  Lời người A: Nghe cô phàn nàn, tôi bực bội, chán nản.
-  Lời người B phản ảnh: Nghe cô phàn nàn, tôi bực bội, chán nản.
-  A: Nhiều lúc tôi muốn bỏ nhà, ra đi.
-  B: Nhiều lúc tôi muốn bỏ nhà ra đi.
 
Phần Hai: Sau độ 5 phút, người A tự nguyện dừng lại, khi cảm thấy tâm linh của mình đã được nuôi dưỡng, tâm hồn của mình đã trở về tình trạng yên nguôi…
 
Lúc bấy giờ, B nhận làm của mình tất cả nỗi lòng mà A đã diễn tả.
 
Sau đó, B tóm lược trong vòng 1 phút những tâm tình của A. Và lúc ấy A thành khẩn lắng nghe, không thêm, không bớt, không điều chỉnh.
 
Sơ đồ tóm lược và phản ảnh của B về A, bao gồm 3 điểm chính yếu sau đây:
 
-  "Tôi cảm thấy…" trình bày xúc động của A.
-  "Tôi muốn… Tôi cần…" trình bày nhu cầu và ước vọng của A.
-  "Tôi thương… tôi thích… tôi khen ngợi…" trình bày quan hệ thân thương, tích cực và năng động của A đối với B, trong giây phút ở đây và bây giờ. Tuyết đối không nhắc lại quá khứ. Không áp đặt với những mệnh lệnh có các từ như  "Phải, Nên, Cần, Cấm, Không được…". 
 
Phần Ba: B diễn tả xúc động của mình.  A bây giờ làm công việc phản ảnh và vọng lại, để cho B nghe lại chính mình.
 
Phần Bốn: A sở hữu hóa và tóm lược xúc động của B.
 
Kỹ thuật này được so sánh như một món ăn lạ. Lúc ban đầu, nó không mang lại những kết quả tức khắc. Nhưng dần dần, nó sẽ trở nên một món ăn có khả năng bồi dưỡng và đổi mới những quan hệ đối tác xã hội của chúng ta.
 
Thực ra, điều quan trọng không phải là hình thức, nhưng là tinh thần và ý hướng của kỹ thuật. Tuy nhiên, trong điều kiện và thân phận làm người, phải có hình thức mới có tinh thần. Trí Thông Minh Xã Hội và cơ sở Não Bộ quyện sát vào nhau, cần nhau và phát huy nhau.
 
Kỹ thuật "Tức giận với chính mình"
 
Trong cuộc sống, rất nhiều lúc, chúng ta tức giận với chính mình. Thậm chí, sau khi đã tức giận với người khác, chúng ta quay lại tức giận với chính mình. Từ đó, chúng ta trở nên trầm cảm, kiệt quệ, vì nhiều mặc cảm tội lỗi đang từ từ xói mòn mọi sức sống vươn lên của chúng ta.
 
Sở dĩ như vậy, vì theo lối nhìn của tâm lý đương đại, chúng ta khởi đầu một tiến trình, và rồi không có khả năng hay là không biết phải kết thúc bằng cách nào.
 
Hẳn thực, phần vụ tích cực và năng động của tức giận, là yêu cầu những người đang chung sống hãy tôn trọng giá trị và lãnh thổ "tâm linh" của chúng ta. Tuy nhiên, nhiều lúc chính chúng ta chưa ý thức rõ ràng về giá trị đích thực và cơ bản của mình. Và khi có ý thức, chúng ta lại không biết tìm cách trình bày ra ngoài, cho kẻ khác hiểu được con người đích thực của chúng ta.
 
Với kỹ thuật "tức giận với chính mình", chúng ta học tập về thể thức kết thúc một cách trọn vẹn, tiến trình tức giận của chúng ta. 
 
Trong phần Một, với sứ điệp ngôi thứ nhất, chúng ta diễn tả xúc động tức giận của mình, với tất cả đoàn tùy tùng:
 
- "Tôi tức giận bạn về việc…"
- "Tôi ghét bạn, KHI…"
- "Tôi khó chịu, bực bội, vì lý do…".
 
Trong phần Hai, chúng ta trình bày những nguyện vọng có liên hệ mật thiết với những giá trị hiện tại của chúng ta:
 
- "Tôi muốn từ đây bạn hãy nói… và làm…"
- "Tôi muốn được cư xử, đãi ngộ…"
- "Tôi thiết tha yêu cầu bạn làm…"
"Ước vọng quan trọng số một của tôi là…".
 
Trong phần Ba: Dựa vào kinh nghiệm cụ thể và khách quan, có mặt trong quá khứ, chúng ta trình bày khả năng và đức tính thực sự của chúng ta:
 
- "Bạn có thể làm…"
- "Bạn có những khả năng…"
- "Bạn xứng đáng với thành tích như…"
- "Bạn rất tài tình về…"
- "Bạn dễ thương, khi…". 
 
Trong phần bốn: Diễn tả quan hệ năng động và tích cực với chính mình:
 
- "Tôi thương bạn, khi…"
- "Tôi sung sướng, khi bạn làm…"
- "Tôi hạnh phúc được thấy bạn…".
 
Khi chúng ta biết tức giận với chính mình như vậy, chúng ta sẽ có khả năng diễn tả nỗi tức giận của mình đối với kẻ khác trong gia đình, cũng như ngoài xã hội, một cách bình tĩnh, ôn hòa và xây dựng. Tức giận lúc bấy giờ không còn và không phải là con đường dẫn đến bạo động, hay là phá hủy những quan hệ mà chúng ta đã xây dựng và nuôi dưỡng. Chính vì lý do này, sau khi tức giận, bùng nổ, bạo động, chúng ta ngụp lặn trong những trạng thái trầm cảm, mặc cảm tội lỗi…
 
Gốc rễ của tâm trạng trầm cảm và kiệt quệ
 
Nguyên nhân của tình trạng trầm cảm không do môi trường bên ngoài mang đến. Chính lối nhìn của chúng ta làm cho chúng ta đánh mất nhiệt tình và nhiệt lực đã và đang có mặt trong chúng ta. Theo quan điểm của Bác sĩ David D. BURNS, chỉ cần chuyển hóa, một cách ý thức và can trường, những cơ chế xuyên tạc và bóp méo của tư duy, chúng ta sẽ tìm lại nội lực đang có mặt trong con người của chúng ta.
 
Sau đây là mười hình thức xuyên tạc, thường có mặt trong tư duy của người đang mang tâm trạng trầm cảm:
 
- 1) Tư duy "hoặc có tất cả hoặc không có gì cả". Loại tư duy này có tính lưỡng năng, thiếu trung dung (All-or-Nothing Thinking).
- 2) Tư duy tổng quát hóa quá khích (Overgeneralization). Theo loại tư duy này, cái gì chỉ xảy ra một lần, sẽ luôn luôn xảy ra như vậy suốt đời.
- 3) Tư duy sàng lọc (Mental filter). Ông A có rất nhiều đức tính. Chỉ cần một lần ông nói dối, từ đó tư duy của tôi chỉ giữ lại tin tức: ông là người nói dối, tôi khước từ những ý kiến khác.
- 4) Tư duy tiêu cực (Disqualifying the positive). Cơ hồ một người loạn thị, con mắt tư duy của tôi chỉ ghi nhận khía cạnh tiêu cực, và không nhìn nhận bao nhiêu yếu tố tích cực cùng có mặt.
- 5)   Kết luận vội vã (Jumping to conclusions). Dựa vào một hoặc hai dữ kiện cụ thể, tôi đã khẳng định một cách chắc nịch như đinh đóng về giá trị hoặc bản chất của một con người. Chỉ cần mẹ la mắng tôi một lần, tôi đã kết luận: mẹ là bà phù thủy, đối với tôi.
- 6) Bi kịch hay là quan trọng hóa (Catastrophizing): Tư duy của tôi có xu thế phóng lớn ra một chi tiết nhỏ nhặt, hay là giảm khinh một tin tức đang quấy rầy tôi.
- 7)  Biến xúc động thành thực tế (Emotional reasoning). Thể theo loại tư duy này, tôi cảm nhận thế nào, thì thực tế khách quan bên ngoài phải như vậy.
- 8)  Biến lối nhìn thành qui luật, với những mệnh đề có động từ Phải, Nên, Cần…(Should Statements).
- 9)  Gắn nhãn hiệu (Labeling). Trong loại tư duy này, tôi có xu thế biến một hành vi thành một tính chất, một tính tình, một thể loại. Tôi có một kinh nghiệm khó chịu, một lần, với một người miền Trung. Từ đó, mỗi khi có cơ hội phát biểu, tôi luôn luôn khẳng định một cách chắc nịch: người Trung khó chịu.
- 10) Tư duy chủ quan hóa (Personalization). Với loại tư duy này, bạn xem mình là nguyên nhân độc nhất gây ra mọi tai họa, khi đứa con bạn có nguy cơ tự kỷ. Theo bạn, chính bạn đã mang căn tính ác độc, trong nhiều đời nhiều kiếp. Bây giờ con bạn phải gặt hái những hậu họa.
 
Để có thể chuyển biến loại tư duy xuyên tạc và bóp méo này, bạn hãy học tập quan sát và ghi nhận những sự kiện cụ thể, khách quan, bên ngoài. Hãy tôi luyện khả năng đặt ra cho mình câu hỏi: Tôi đang thấy gì, tôi đang nghe gì? Từ những điều mắt thấy, tai nghe như vậy, tôi rút tỉa những kết luận nào? Bạn bè của tôi, những người xa lạ… kết luận như thế nào, khác tôi ở chỗ nào, giống tôi ở chỗ nào? Nói cách khác, cách hành xử mà tôi cần học tập và tôi luyện hằng ngày, là lắng nghe kẻ khác, coi trọng lối nhìn của bao nhiêu người đang cùng chung sống trong môi trường. Hãy nhìn với con mắt của kẻ khác. Hãy lắng nghe, với lỗ tai của những người khác phái, khác miền, khác lập trường, khác chính kiến, khác tôn giáo, khác thế hệ... Người khác, nhờ nét khác biệt của họ, có thể bổ túc và kiện toàn những gì đang thiếu vắng trong con người của tôi.
 
***
 
 
 
 
5. Những sinh hoạt chính yếu
của con người
 
 
Bài chia sẻ này sẽ lần lượt khảo sát 5 lãnh vực "làm người" chính yếu. Trong mỗi lãnh vực, bằng cách này hay cách khác, con đường Bao Dung có thể xuất hiện và bị tổn thương.
- Thực tế,
- Lối nhìn hay là quan điểm "làm người và thành người",
- Đời sống xúc động.
- Ngôn ngữ,
- Những quan hệ trao đổi xã hội qua lại hai chiều giữa người này với người khác, bằng phương tiện ngôn ngữ có lời và ngôn ngữ không lời.
 
 
***
 
 
1. Thực tế của tôi (Thấy, Nghe, Tiếp cận)
 
Thực tế là tất cả những gì tôi thấy, tôi nghe và tiếp cận với tay chân hay là làn da và thớ thịt của tôi.
 
Một người khác cùng chung sống và đang có mặt với tôi, từ một vị trí hay là ở một góc độ khác, có thể ghi nhận một thực tế khác, hoàn toàn khác biệt, thậm chí mâu thuẫn với thực tế của tôi.
 
Chính vì lý do ấy, bao lâu hai người chưa trao đổi qua lại, chia sẻ, góp chung lại với nhau, với một thái độ lắng nghe và tôn trọng lẫn nhau, thực tế của tôi chưa thể nào xích lại gần với thực tế của người kia.
 
Vấn đề trở nên phức tạp và phiền toái hơn nữa, khi mỗi người dựa vào những kinh nghiệm quá khứ hay là những dự phóng tương lai, để trình bày về những thực tế có liên hệ gần hoặc xa với mình. Ví dụ: Thực tế của Đất Nước Việt Nam là gì một cách thực sự và khách quan, một đàng đối với một người ở lại trong Nước. Đàng khác, cũng một thực tế ấy là gì, đối với một người đã ra đi và đang sống ở Nước Ngoài? Nếu hai người có hai chính kiến hay là ở vào hai thế hệ, hoặc lớp tuổi khác nhau, sự cách biệt giữa hai loại thực tế của hai người ấy càng trở nên lớn lao hơn, có khi còn khai trừ và loại thải lẫn nhau.
 
Sau cùng, chúng ta dùng ngôn ngữ, để diễn tả thực tế được cưu mang trong nội tâm của mình. Khi bộc lộ nội tâm như vậy, chúng ta không thể không sử dụng ba cơ chế hay là xu thế cần thiết và tất yếu, có mặt trong mọi ngôn ngữ, như: tổng quát hoá, gạn lọc và chủ quan hoá:
 
Tổng quát hoá có nghĩa là khởi phát từ hai hoặc ba nhận xét cụ thể, chúng ta nhảy vọt lên và đề xuất một kết luận có tính qui luật và thường hằng: Thực tế luôn luôn là như vậy, và phải tiếp tục như vậy, trong mọi trường hợp, đối với mọi người.
 
Gạn lọc là xu thế chỉ chọn lựa những sự kiện cụ thể, thích hợp với hoàn cảnh và kinh nghiệm của bản thân tôi, và từ đó tôi cố tình loại trừ và kết án những gì đi ngược lại với những tin tưởng hoặc định kiến đã có mặt trong nội tâm của tôi.
 
Chủ quan hoá là xu thế gán ghép hoặc áp đặt cho kẻ khác một ý nghĩa do tôi khám phá và đề xuất. Thực tế đối với tôi là như vậy, cho nên mọi người phải chấp nhận thực tế ấy, như là một hiển nhiên, không cần khảo sát thêm và kiểm chứng một cách dài dòng, phức tạp.
 
Khi ý thức một cách sáng suốt, đến ba cơ chế tâm lý này, luôn luôn có mặt trong ngôn ngữ và tác phong trao đổi hằng ngày, chúng ta sẽ cố quyết học tập hai thái độ, nhằm thăng tiến bản thân và tôn trọng tính người của mọi anh chị em đang có quan hệ với chúng ta.
 
- Thái độ thứ nhất là LẮNG NGHE chính mình, để đề phòng bao nhiêu cạm bẫy, do chúng ta tạo nên, khi phê phán, đánh giá, tố cáo và kết án kẻ khác. Tổ tiên và cha ông chúng ta đã đề nghị "hãy đánh lưỡi bảy lần trước khi nói", có nghĩa là "hãy thức tỉnh", không mê muội, trầm mình trong những định kiến hoàn toàn vô thức. Nói cách khác, khi đi, tôi biết tôi đang đi. Khi nói, tôi biết tôi đang nói…
 
- Thái độ thứ hai là Lắng Nghe và Tôn Trọng kẻ khác, tạo mọi điều kiện thuận lợi và tốt hảo, nhằm giúp họ diễn tả và trình bày thực tế, do chính họ ghi nhận. Khi chúng ta lắng nghe như vậy, chúng ta đã cho phép người ấy "trở thành người".
 
2. Tư Duy
 
Sau khi ghi nhận thực tế với năm giác quan,  chúng ta sử dụng TƯ DUY, để tổ chức, khẳng định và trình bày LỐI NHÌN của mình. Lối nhìn, tùy theo cách dùng ngôn ngữ của mỗi tác giả, còn mang những tên gọi khác nhau như: ý kiến, quan điểm, lập trường hay là vũ trụ quan.
 
Nhằm phát huy và thao tác con đường tư duy một cách sáng suốt, có hệ thống và khoa học, chúng ta cần từ từ đi lên từng bước, theo năm cấp thang suy luận sau đây:
 
- Cấp thứ nhất là thâu lượm, khảo sát và kiểm chứng các dữ kiện cụ thể và khách quan có liên hệ đến một vấn đề mà chúng ta muốn giải quyết.
 
- Cấp thứ hai là đề xuất một hay nhiều giả thuyết, nhằm khám phá ý nghĩa của thực tế hay là vấn đề mà chúng ta đang nhận diện và đối diện.
 
- Cấp thứ ba là chọn lựa một hướng đi, hay là mục đích tối hậu. Từ đó, chúng ta xác định đâu là ưu tiên số một – hay là mục tiêu quan trọng nhất – trong bao nhiêu dự phóng của chúng ta.
 
- Cấp thứ tư là chuyển biến mục đích tối hậu thành những hiện thực hay là những tác động cụ thể hằng ngày.
 
 - Cấp thứ năm là đánh giá kết quả cuối cùng, sau một thời gian thực hiện, bằng cách trở về đối chiếu với thực tế lúc ban đầu, để xác định đâu là thành quả khả quan và đâu là những tồn tại chưa được khắc phục. Nói cách khác, chúng ta thất bại, vì những cản trở nào?  Hay là chúng ta đã thành tựu, nhờ vào những năng động nào? Dựa vào cách đánh giá ấy, chúng ta sẽ thêm, bớt hay là chuyển hướng thế nào, trong bao nhiêu dự án sắp tới?
 
Trong cách dùng từ, để tránh những ngộ nhận đáng tiếc có thể xảy ra, chúng ta cần phân biệt hai động tác có ý nghĩa và phần vụ hoàn toàn khác nhau:
 
Một bên là nhận định, đánh giá tác phong hay là hành vi của chúng ta và của người khác.
Bên kia là phê phán, xét đoán giá trị của con người, với một đoàn tùy tùng dài thòng lòng như tố cáo, loại trừ, chửi bới và tấn công...
 
Trong cuộc sống làm người, chúng ta không thể không nhận định và đánh giá công việc cũng như hành vi của mình và của người khác.
 
Một cách đặc biệt, khi có nhiệm vụ giáo dục và hướng dẫn ai, phải chăng công việc quan trọng bậc nhất của chúng ta là giúp cho người ấy càng ngày càng phát huy khả năng đánh giá tất cả những gì xảy ra trong cuộc đời, bắt đầu từ những gì họ nói và làm?
 
Đánh giá như vậy có nghĩa là xác định và phân biệt, theo những tiêu chuẩn đang được thịnh hành trong môi trường xã hội, văn hoá và giáo dục: cái gì đúng và cái gì sai, cái gì thích hợp và cái gì không thích hợp với đời sống và quan hệ xã hội…
 
Tuy nhiên, khi làm công việc ấy, chúng ta cần ý thức một cách rõ ràng và sáng suốt: trong mọi hoàn cảnh, đánh giá công việc hay là tác phong của một người không phải là phê phán giá trị và bản sắc làm người của người ấy.
 
Cho nên, trên con đường đi tới của tư duy, một đàng với sứ điệp "TÔI", chúng ta khẳng định quan điểm và xác tín của mình. Đàng khác, chúng ta lắng nghe và tôn trọng người khác, cho phép họ diễn tả và trình bày ý kiến của mình, mặc dù đó là một trẻ em, đang ở vào lứa tuổi "học làm người". Trái lại, khi "nói THAY nói THẾ", hay là "cố tình áp đặt từ trên và từ ngoài" cho kẻ khác, một lối nhìn, một cách đơn phương và độc tài, chúng ta chưa thực sự làm người. Đồng thời, chúng ta đang làm tổn thương giá trị làm người, hay là xói mòn lòng tự tin và khả năng học tập của người ấy.
 
3. Xúc Động
 
Tư duy, như vừa được nói tới, có phần vụ sáng soi và điều hướng chúng ta, trong mọi chương trình và kế hoạch hành động. XÚC ĐỘNG, trái lại, là động cơ thúc đẩy chúng ta thực hiện và hoàn thành công việc, nhằm thoả mãn mọi nhu cầu chính đáng và cơ bản trong cuộc sống làm người. Chính vì lý do đó, khi các nhu cầu làm người được đáp ứng và toại nguyện, chúng ta vui sướng, hạnh phúc và an bình. Trong trường hợp ngược lại, những xúc động như sợ hãi, lo buồn và tức giận sẽ xuất hiện trong nội tâm, như một tiếng còi báo động nhằm đánh thức và thúc giục chúng ta "hãy diễn tả, chia sẻ và chuyển hoá tình huống hiện tại". Không được hoá giải như vậy, xúc động sẽ tràn ngập và khống chế tư duy, như một dòng thác lũ phá vỡ bờ đê và làm băng hoại mọi mùa màng trong những cánh đồng hai bên.
 
Thêm vào đó, ở bên dưới mỗi xúc động đang làm cho nội tâm và nhất là các sinh hoạt bình thường của tư duy bị tê liệt, chúng ta hãy lắng nghe và khám phá một hay nhiều NHU CẦU của cuộc sống làm người. Hãy lắng nghe và nhìn nhận, một cách chân thành và cẩn trọng, những nhu cầu cơ bản ấy. Phải chăng đó là cách hoá giải hữu hiệu và cũng là con đường làm người cần được mỗi người học tập, tôi luyện trong suốt cuộc đời.
 
Nếu chúng ta không đáp ứng, với những phương thức vừa được trình bày, xúc động sẽ trở thành BẠO ĐỘNG trong ngôn ngữ và hành vi. Ở cuối chặng đường thoái hoá, xúc động sẽ trở thành hận thù và chiến tranh. Và con người lúc bấy giờ, sẽ biến thân thành muông thú đối với nhau, trong mọi quan hệ qua lại hai chiều, như "Tao hơn – mày thua, Tao tốt – mày xấu, Tao có lý – mày phi lý…". Tắt một lời, "Mors tua, vita mea", có nghĩa là "Mày phải chết, để cho tao sống, chúng ta không thể đội trời chung".
 
Trong khuôn khổ của bài chia sẻ này, tôi chỉ đề cập đến ba xúc động chính yếu sau đây mà thôi:  
 
-         Thứ nhất là TỨC GIẬN. Xúc động này có phần vụ nhấn mạnh rằng: "Tôi đang cần TỰ DO và tôi cần khẳng quyết quyền KHÁC BIỆT, đối với những người đang chung sống hai bên cạnh".
 
-         Thứ hai là BUỒN PHIỀN. Sứ điệp của xúc động này là: "Tôi đang cần tạo lập những QUAN HỆ hài hòa và mới mẻ, với con người và sự vật đang bao quanh tôi".
 
-         Thứ ba là LO SỢ. Xúc động này đang dùng ngôn ngữ không lời, để nhắn nhủ cho chính chúng ta rằng: "Tôi đang cần được sống trong bầu khí AN TOÀN. Xin đừng có ai đe dọa, tố cáo và kết án tôi".
 
Khi cả ba nhu cầu cơ bản ấy được lắng nghe, trân trọng, đáp ứng và toại nguyện, ai ai trong chúng ta cũng sẽ tự nguyện thi thố tài năng của mình một cách tối đa và tốt hảo, trên con đường làm người. Đồng thời, một cách hăng say và nhiệt tình, chúng ta sẽ vận dụng mọi cơ may, để đóng góp và xây dựng cho kẻ khác, để họ cũng có những điều kiện làm người như chúng ta, với chúng ta và nhờ chúng ta.
 
4. Quan Hệ Xã Hội
 
Sinh hoạt thứ bốn, trên tiến trình làm người của chúng ta, là kết dệt những quan hệ ĐỒNG CẢM và ĐỒNG HÀNH, với anh chị em đồng bào và đồng loại. Theo lối nhìn của tác giả Stephen COVEY, đây là loại quan hệ "Người Thắng – Tôi Thắng – Chúng ta cùng Thắng". Không có kẻ hơn, người thua. Không có người tự tấn phong là hạng "siêu nhân", và những thành viên còn lại được cư xử và đối đãi như là "công cụ", "đồ vật", "bệ gác chân", hay là "một loại người phó sản".
 
Trong hiện tình thoái hoá của đời sống làm người, vì những lý do thực tiễn, quan hệ XIN CHO đã bị đầu độc và ô nhiễm trầm trọng. Xin có nghĩa là quị lụy, sụp lạy trước một "phú ông ". Cho có nghĩa là ban phát một cách nhỏ giọt, từ trên và từ ngoài, một cách tùy nghi và tùy tiện.
 
Trong khi đó, quan hệ bình thường và lành mạnh giữa người và người, nhất là trong địa hạt Tình Yêu dâng hiến, bao gồm bốn động tác cơ bản: XIN và CHO, NHẬN và TỪ CHỐI.
 
Hẳn thực, chính lúc tôi cho, tôi đang nhận lại bao nhiêu hồng ân, bằng cách này hoặc cách khác. Khi xin ai một điều gì, tôi đang nhìn nhận tính chủ thể của người ấy. Cho nên, tôi không có thái độ cướp giật, ép buộc, đòi hỏi, đấu tranh, giống như hùm beo muông sói.
 
Cũng trong tinh thần và lăng kính ấy, khi ai xin tôi một điều gì, tôi cần khảo sát điều kiện thực tế của mình, để có thể chọn lựa một trong hai con đường: Một là CHO một cách bình tâm và thanh thản. Hai là từ chối, trả lời "KHÔNG", một cách nhã nhặn và khiêm tốn. Xin như vậy không phải là nài nỉ, ép buộc người kia phải cho. Và khi cho trong tinh thần ấy, tôi không phải là người ở trên, ban phát xuống một cái gì dư thừa, vô ích và vô dụng. Trong cách cho như vậy, tôi không cưu mang một hậu ý là "thả tép câu tôm". Hẳn thực, khi cho bất kỳ một điều gì, một cách thực sự và trọn vẹn, tôi CHO chính CON NGƯỜI của tôi. Tôi CHO cả MỘT TẤM LÒNG làm người, khả dĩ kêu mời người khác cũng làm người với tôi và giống như tôi.
Chính vì bao nhiêu lý do vừa được đề xuất như vậy, trong mọi quan hệ bao gồm tình yêu, tình bạn, tình anh chị em đồng bào, đồng loại… tôi dùng sứ điệp "NGÔI THỨ NHẤT, TÔI", để diễn tả và khẳng định con người của mình, thay vì lạm dụng ngôi thứ hai, để nói thay, nói thế cho kẻ khác, theo kiểu "cả vú lấp miệng em", hay là áp đặt từ trên và từ ngoài những "qui luật" như: Phải, Cần, Nên, Không được...
 
Trong tinh thần và lăng kính ấy, khi biết lắng nghe và tôn trong con người đang có mặt và chung sống, chúng ta sẽ có khả năng sáng tạo và thiết lập với mọi người, những quan hệ xây dựng và hài hòa, còn mang tên là "tương sinh, tương thành". Hẳn thực, khi chúng ta cố quyết "làm người", chúng ta sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho kẻ khác "thành người, với chúng ta, nhờ chúng ta và như chúng ta".
 
 
Bốn bước đi tới trong mỗi quan hệ tiếp xúc và trao đổi
 
Nhằm cụ thể hoá những ý kiến vừa được quảng khai, sau đây là bốn bước cần thực hiện, mỗi lần chúng ta thiết lập những quan hệ xây dựng và hài hòa với người khác, nhất là khi đối diện những phản ứng xúc động đang leo thang, tràn ngập và sắp bùng nổ:
 
Bước thứ nhất:
 
Tôi Nghe, tôi Thấy… Tôi ghi nhận sự kiện khách quan, cụ thể trước mắt mình.
Khi làm như vậy, tôi tìm cách phản ánh và kiểm chứng: có phải, có đúng như vậy không ?
 
Bước thứ hai:
 
Kêu ra ngoài, gọi tên xúc động đang ẩn núp ở dưới sự kiện.
 
Ví dụ : Em/chị nói như vậy có nghĩa là em/chị đang BUỒN, GIẬN, hay là SỢ phải không ? Khi tiếp xúc với trẻ em, chúng ta chỉ cần xoay lui xoay tới với 3 xúc động chính yếu này mà thôi.
 
Bước thứ ba:
 
Sau khi lắng nghe và ghi nhận xúc động, chúng ta tìm hiểu thêm: Chị/em đang CẦN  gì? NHU CẦU quan trọng bậc nhất của chị/em có phải là --- ?
Bước thứ tư: Vậy theo em/chị, trong hoàn cảnh và vị trí của tôi, tôi có thể làm gì cụ thể, để đáp ứng nhu cầu của em/chị ? Chị/em yêu cầu tôi LÀM gì?
 
Sau khi lắng nghe, ghi nhận, tôi xin trả lời:
 
- Về yêu cầu thứ nhất mà chị vừa trình bày, tôi có thể làm được.
- Về yêu cầu thứ hai... tôi không có khả năng và điều kiện để làm.
 
Khi từng bước đi lên như vậy, tôi lưu tâm đến những cách làm quan trọng sau đây:
 
- 1) Dùng sứ điệp TÔI, để nói về mình, cũng như khẳng định mình một cách trung thực. Điều cần đề phòng là nói thay nói thế kẻ khác, thuyên giải, bói đoán, áp đặt cho kẻ khác những lối nhìn hoàn toàn chủ quan.
- 2) PHẢN ẢNH, nghĩa là nói lại với ngôn ngữ của mình, những gì chúng ta đã ghi nhận và đón nhận, khi lắng nghe và đặt trọng tâm vào con người của kẻ khác.
- 3) KIỂM CHỨNG bằng cách yêu cầu kẻ khác nói rõ: những điều tôi hiểu về họ, có hoàn toàn ăn khớp với quan điểm của họ hay không ?
- 4) KHÔNG KHUYÊN BẢO, nghĩa là đề nghị cho kẻ khác những lối nhìn và cách làm của chính chúng ta.
- 5) Thay vì bói đoán hay là tưởng tượng, tôi GHI NHẬN một cách khách quan, những gì mắt thấy, tai nghe, phát xuất từ người đang trao đổi với tôi.
- 6) Thay vì ÁP ĐẶT một cách vu vơ, nghĩa là đề xuất một lối nhìn hoàn toàn chủ quan, do chính tôi khám phá, xây dựng và tưởng tượng, tôi chỉ cố gắng TRUNG THỰC NÓI VỀ MÌNH và LẮNG NGHE cũng như TÌM HIỂU ý kiến của người khác, khi họ phát biểu.
- 7) Khi thiết lập những quan hệ ĐỒNG CẢM như vậy, chúng ta tạm thời đóng vào ngoặc, không đề cập vấn đề đồng ý hay bất đồng, về mặt tư tưởng và quan điểm. Chúng ta chỉ làm công việc nhìn nhận con người và tôn trọng giá trị làm người của họ mà thôi.
 
Thể theo lối nhìn và kinh nghiệm hòa giải của tác giả Marshal B. ROSENBERG, chúng ta chỉ cần tôn trọng một cách nghiêm chỉnh và chính xác, bốn bước từ từ đi lên, như được đề nghị, chúng ta sẽ có khả năng đề phòng và ngăn chận hiện tượng xúc động biến thành bạo động, trong hành vi của chính chúng ta, cũng như trong hành vi của kẻ khác.
 
Chính vì lý do này, mỗi lần có hiện tượng xúc động "bùng nổ" nơi trẻ em, tôi đề nghị những cách hành xử sau đây:
 
- Thứ nhất, người lớn hãy có mặt với trẻ em, đừng bỏ đi nơi khác,
- Thứ hai, thay vì ngăn chận, ức chế, bằng ngôn ngữ hoặc hành vi, chúng ta chỉ bình tĩnh phản ánh: Mẹ thấy con bùng nổ. Con có thể nói lên cơn tức giận của con. Mẹ cho phép con diễn tả, nói ra, bộc lộ ra ngoài. Nếu tức quá, con hãy tức với cái gối này đây. Trường hợp trẻ em đánh đập kẻ khác, chúng ta chỉ cầm tay, giữ chặt trẻ em lại và nói: Con tôi tức quá, giận quá. Con có thể giận cái ghế, cái gối. Nhưng không bao giờ đánh em, đánh mẹ. Điều cốt yếu trong lúc này là chúng ta giữ nét mặt và thái độ bình tĩnh, không ức chế và trừng phạt.
- Thứ ba, sau khi trẻ em đã trở về tình trạng ổn định, chúng ta tìm hiểu nhu cầu của trẻ em: Con cần gì, hãy nói ra cho mẹ biết. Trường hợp trẻ em không nói, chúng ta có thể thuyên giải, đưa ra một lý do hay là đặt câu hỏi. Động cơ chính trong cách làm và cách nói của chúng ta, vào lúc này là có mặt và trao đổi, phản ánh, hơn là khám phá sự thật hay là nguyên nhân đích thực của hành vi bùng nổ.
- Thứ bốn, để kết thúc, chúng ta đề nghị một trò chơi. Hai mẹ con có thể cầm tay nhau, đi quanh một vòng… Nếu người lớn đã có thói quen tiếp xúc, trao đổi như vậy… dần dần họ sẽ tìm ra những cách làm và lời nói thích hợp. Tuy nhiên, tôi muốn nhấn mạnh lại, điều quan trọng ở đây là có mặt và trao đổi. Nội dung không thiết yếu bao nhiêu.
 
Và khi người mẹ biết tạo quan hệ Đồng Cảm như vậy, bà là cái KHUNG bao bọc, che chở, tạo an toàn tình cảm cho đứa con, trong mọi tình huống thuận lợi cũng như bất lợi.
 
Trong tinh thần và lăng kính này, Lắng Nghe, Có Mặt và Đồng Cảm, là những quà tặng lớn lao, cho những người đang tiếp xúc với chúng ta, bất kể người ấy đang còn là một trẻ em, hay đã trưởng thành và có những trách nhiệm, trong lòng xã hội.
 
5. Ngôn Ngữ
 
Như đã được trình bày từ đầu, Nội Tâm bao gồm năm thành tố khác nhau, nhưng bổ túc và kiện toàn cho nhau:
 
-  Cửa Vào làm bằng năm giác quan (Input),
- Tư Duy và Xúc Động là hai Thành Tố thuộc Tiến Trình Biến Chế và Chuyển Hoá (Processing),
-  Hai Thành Tố thứ tư và thứ năm là Cửa Ra bao gồm Ngôn Ngữ và những Quan Hệ xã hội giữa người với người (Output).
 
Vì lý do sư phạm, tôi đã chọn lựa thứ tự trước-sau, trong-ngoài. Trong thực tế, năm thành tố ấy giao thoa chằng chịt, tác động qua lại, kết dệt với nhau những quan hệ nhân quả hai chiều. Hẳn thực, một trong năm thành tố có thể là nhân, có khả năng phát sinh, điều hướng hoặc điều động bốn yếu tố còn lại. Khi khác, chính yếu tố ấy lại là thành quả chịu ảnh hưởng lớn lao của một thành tố khác.
 
Tư duy chẳng hạn, mang lại cho đời sống của con người một hướng đi, một ý nghĩa, một mục đích. Tuy nhiên, không có xúc động làm động cơ thúc đẩy, làm sao con người có thể có khả năng chuyển biến một chương trình, một kế hoạch thành hoa quả cụ thể trong lòng cuộc đời. Nhưng khi không có ánh sáng của tư duy soi sáng và hướng dẫn, xúc động sẽ tức khắc bị tràn ngập và gây ra nhiều đổ vỡ trong đời sống xã hội…
 
Nói khác đi, xúc động cần được gọi ra ngoài, đem ra vùng ánh sáng của ý thức và ngôn ngữ. Lúc bấy giờ, xúc động không còn là một "Xung Năng" hoàn toàn vô thức, một sức thúc đẩy, dồn ép, tạo căng thẳng. Trong tiếng Anh, sức mạnh ấy mang những tên chuyên môn như Drive, Urge hay là Pulsion.
 
Trong lăng kính vừa được trình bày, ngôn ngữ là một phương tiện được dùng, để GỌI RA NGOÀI, hay là MANG RA VÙNG ÁNH SÁNG, những gì được cưu mang trong nội tâm. Đối với bốn thành tố khác – là giác quan, tư duy, xúc động và quan hệ xã hội –ngôn ngữ đóng vai trò tổ chức, xếp đặt, diễn tả, phản ánh hay là giải toả. Nhờ ngôn ngữ, chúng ta đặt tên hay là gọi tên, cho những gì chúng ta thấy, nghe, cảm. Tuy nhiên, ngôn ngữ không phải là sở hữu riêng tư của một cá nhân. Đó là phương tiện của cả một tập thể, một cộng đồng, một nền văn hoá, có khả năng mở ra cho chúng ta những cánh cửa bao la, diệu vợi, một bầu trời tự do và sáng tạo. Đồng thời, ngôn ngữ cũng là một cạm bẫy đầy hiểm nguy và tai hoạ. Chẳng hạn, chúng ta dùng ngôn ngữ, để tìm hiểu, khám phá lối nhìn và quan điểm của kẻ khác. Nhưng chúng ta cũng có thể dựa vào ngôn ngữ, để áp đặt cho kẻ khác những cách làm, những lối suy tư mà chúng ta lầm tưởng đó là chân lý ngàn đời, là qui luật bất di bất dịch, phổ cập bất kỳ ở đâu.
 
Bao nhiêu nhận xét ấy cho phép chúng ta ý thức đến ít nhất ba phần vụ khác nhau của ngôn ngữ:
 
- Thứ nhất, đó là một phương tiện cần được đặt dưới quyền sử dụng của tư duy, nhằm tổ chức và định hướng cuộc đời.
- Thứ hai, đó cũng là một dụng cụ hữu ích và hữu hiệu, để chúng ta thiết lập quan hệ tiếp xúc và trao đổi, chia sẻ và đồng cảm với những người cùng chung sống trong môi trường xã hội.
- Thứ ba, xuyên qua con đường ngôn ngữ, chúng ta thực thi công việc phản ánh, có nghĩa là từ từ gọi ra vùng ánh sáng của ý thức, bao nhiêu động lực đen tối, mập mờ, bao nhiêu xung năng vô tổ chức, cũng như bao nhiêu tiếng nói còn đang bị ức chế, trấn áp, chưa được coi trọng và lắng nghe.
 
Không nhìn nhận và coi trọng đúng tầm ba vai trò và ba giá trị ấy của ngôn ngữ, trong các phương pháp tiếp cận và giáo dục, chúng ta sẽ lập tức biến ngôn ngữ thành một dụng cụ nhồi nhét, nhồi sọ. Một cách vô tình và vô thức, chúng ta biến trẻ em thành một con sáo, con cưỡng học nói, hay là một chiếc máy vô hồn ghi âm và phát âm.
 
Nói cách khác, bao lâu trẻ em tự kỷ còn có những vấn đề "xúc động tràn ngập hay là bùng nổ", điều quan trọng bậc nhất là tạo ra những điều kiện, những bầu khí, những khung cảnh an toàn thể lý và tâm linh. Tôi gọi đó là "cái KHUNG bền vững", bao bọc và che chở trẻ em, đối với mọi va chạm trong cuộc đời.
 
Bao lâu trẻ em còn sống bít kín, đóng khung trong những hành vi lặp đi lặp lại, ưu tiên số một hay là nhu cầu cơ bản nhất, cần khám phá, để chuyển hoá tình trạng hiện tại của trẻ em, là thiết lập với trẻ em – một cách vô điều kiện và đơn phương về phía chúng ta  – những quan hệ xã hội.
 
Quan hệ xã hội này làm bằng những động tác cụ thể như: có mặt, lắng nghe, nhìn ngắm, sung sướng, hạnh phúc, sẵn sàng đồng cảm và đồng hành với trẻ em.
 
 
***
 
 
 
 
 
6. Mặc cảm là gì ?
 
 
1. Những tổ chức khác nhau của nội tâm
 
Khi bàn đến nội tâm của con người, Phân Tâm Học của FREUD  trình bày hai cách tổ chức khác nhau, còn được gọi là hai cấu trúc của bộ máy tâm linh.
 
Cấu trúc thứ nhất gồm có ba thành phần khác nhau: Thành phần thứ nhất là "Cái Tôi" hay là Bản Ngã. Thành phần thứ hai là Siêu Ngã, còn mang tên là "Cái Trên-Tôi", có phần vụ soi sáng và hướng dẫn Bản Ngã. Đó là một loại "bản đồ tâm lý" cho phép Bản Ngã tìm ra những đường đi và nẻo về, ở giữa lòng cuộc đời. Sau cùng là thành phần Tự Ngã, còn được gọi là "Cái Ấy". Đó là kho tàng nguyên liệu tự nhiên, bẩm sinh, có sẵn trong hành trang vào đời, từ ngày chúng ta được cưu mang, trong cung dạ của Mẹ. Những nguyên liệu này sẽ từ từ được chuyển biến thành vật tư kiến dựng ngôi nhà Bản Ngã, trong suốt tiến trình học làm người, còn mang tên là tiến trình xã hội hóa.
 
Cấu trúc thứ hai bao gồm hai chế độ sinh hoạt khác nhau: Ý Thức và Vô Thức. Khi sống trong chế độ ý thức, tôi biết tôi là ai, đang làm  gì… Khi ăn, tôi biết tôi đang ăn. Khi làm, tôi biết tôi đang làm. Khi phát biểu, tôi biết rành mạch đâu là sự kiện khách quan, đâu là giả thuyết, đâu là những kết luận phát xuất từ tôi, đâu là những dư luận đồn thổi, không được kiểm chứng... Nói một cách vắn gọn, khi tôi sống trong ánh sáng của ý thức, tất cả những gì xảy ra, trong và ngoài, trước mắt tôi, đều là bài học và kinh nghiệm quí hóa giúp tôi xây dựng bản thân và cuộc đời. Nhờ đó, tôi trở nên một Bản Ngã kiên cường và vững mạnh, có khả năng LÀM CHỦ bản thân và kiến dựng  đời sống.
 
Trái lại, khi ở trong chế độ Vô Thức, tôi hoạt động như một bộ máy vô hồn. Nhiều sức ép bắt nguồn từ Tự Ngã, còn mang tên là Xung Năng, tác động trên tôi, thúc đẩy tôi. Thêm vào đó, khi phải đối diện với lối nhìn xoi móc và cay nghiệt của Siêu Ngã, tôi dễ dàng hóa thân thành "một con múa rối", bị lèo lái, điều khiển từ ngoài và từ trên. Thay vì làm một chủ thể có khả năng sáng tạo cuộc đời, tôi chỉ là một "đồ vật", một "đối tượng",  lênh đênh, phiêu bạt giữa dòng đời. Khi bị kích thích, tôi  phản ứng một cách máy móc, tự động và một chiều. Hẳn thực, không có trước mặt những con đường thứ hai, để cân nhắc, phân biệt, đánh giá… làm sao tôi có thể trở nên con người tự chủ, biết quyết định và chọn lựa một  cách tự do, hài hòa, linh động và sáng tạo.
 
Nói theo ngôn ngữ của Phân Tâm Học, Bản Ngã của tôi bị chèn ép, kềm kẹp, giữa hai đối lực đang tranh giành quyền lực và ảnh hưởng. Một bên là Siêu Ngã áp đặt cho tôi những cách làm, những nguyên lý hành động. Và bên kia là Xung Năng, với những sức ép khắt khe, những đòi hỏi mãnh liệt, những thèm khát đầy quyến rủ… cơ hồ một dòng thác lũ lôi cuốn và phá hủy tất cả những bờ đê ngăn chận, trên con đường đi tới của mình. Rốt cuộc, sống thường xuyên, ở giữa hai gộng kềm khắc nghiệt như vậy, tôi không biết: Tôi thực sự là ai ? Bản Ngã của tôi đặt trọng tâm ở chỗ nào ? Tôi có những nhu cầu cơ bản nào ? Khả năng và giá trị, mà tôi cần kiên trì đeo đuổi và ngày ngày thực hiện, gồm có những gì, trên con đường vạn nẻo của cuộc đời ? Rốt cuộc, tôi chỉ "theo đuôi kẻ khác", nghĩa là thừa hành, tuân lệnh, bị động, lệ thuộc, "nhắm mắt đưa chân". Đến một lúc nào đó, khi không còn chịu đựng được tình trạng "làm đồ vật, công cụ" để kẻ khác sử dụng và sai khiến, lúc bấy giờ tôi bùng nổ, phản loạn, hủy hoại mình như một con thiêu thân. Sau khi hồi tỉnh lại, tôi tố cáo, phê phán, trách móc chính mình, gán cho mình những danh hiệu xấu xa và tệ hại, đang có mặt trong ngôn ngữ thường ngày.
 
Ngoài ra, trong những quan hệ tiếp xúc và trao đổi với kẻ khác, thậm chí với những người thân tình, bằng hữu… tôi có xu thế "CẢM" và "THẤY" mình là người luôn luôn "thua thiệt, bị lép vế, lạm dụng và lợi dụng". Không ai thương tôi thực sự. Không ai kính trọng tôi. Không ai hiểu tôi và lắng nghe tiếng kêu trầm thống của tôi. Những tâm tình, xúc động sâu xa và thầm kín, đang sôi sục và rền rĩ trong nội tâm, không một ai trong trời đất này có khả năng chia sẻ với tôi. Họ chỉ tố cáo, phê phán, trừng phạt. Nói tóm lại, cô đơn và cô độc là thân phận và số kiếp đọa đày của tôi. Tôi cảm thấy mình là người hoàn toàn xa lạ và bất hạnh, trong mọi môi trường của cuộc sống làm người.
 
Xuyên qua một vài đường nét chính yếu vừa được đề xuất như vậy, tôi đã cố gắng phác họa và mô tả một phần nào, con người đang cưu mang trong nội tâm nhiều mặc cảm.
 
-   Con người ấy chìm đắm trong vô thức, hơn là sống trong ánh sáng của ý thức.
-   Con người ấy cảm thấy mình là nạn nhân của nhiều đối lực bên ngoài và bên trong, hơn là làm chủ bản thân và nắm vững vận mệnh của mình.
-   Con người ấy phản ứng một cách bốc đồng, bột phát và lộn xộn… hơn là sáng tạo và xây dựng, khẳng định chính mình và từng bước đi lên thực hiện mỗi ngày những hoài bảo, mộng mơ  trong cuộc đời.
-   Trong mọi tình huống, khi va chạm với kẻ khác, con người ấy cảm thấy mình bị thua thiệt, bất hạnh và cô đơn.
-   Sau cùng, con người ấy không biết rõ mình là ai: Hiện tại họ có những nhu cầu cơ bản nào ? Họ cần phải chọn lựa ưu tiên nào, trong cuộc đời, để hăng say dấn thân, nhập cuộc, xây dựng bản thân và thăng tiến anh chị em đồng bào ?
 
Trước khi phân tích, tìm hiểu tâm trạng rất đa phức và phiền toái này, chúng ta hãy lắng nghe lời tự thú của LÝ MINH NGUYỆT[2] đang sống và giam hãm mình trong vòng mê cung của mặc cảm:
               "Tôi vừa đọc trong sách một đoạn văn nói về tính nhút nhát, rụt rè. Tôi thấy đó là một tính xấu, đúng như người ta nói. Tôi sợ hết mọi người. Ở lớp, thấy thầy cũng sợ, bạn cũng sợ. Về nhà, thấy chị em, tôi cũng sợ. Tôi không hiểu sao cả. Đôi lúc, tôi thấy mình sao hèn nhát quá. Hình như tôi không còn là tôi, không dám làm gì, nói gì cả. Mặc dù chẳng ai làm gì, nhưng sao tôi cứ sợ. Tôi lo quá. Cứ như thế này, tôi chẳng ăn làm gì được…".
 
2. Những tiêu chuẩn để phát hiện:
 
Những sơ đồ tâm lý,
Những tập  tục xúc động,
Những yếu tố dẫn khởi.
 
Làm sao phát hiện sự có mặt của những Mặc Cảm, trong nội tâm của chính mình, và trong cuộc sống của người khác ?
Như tôi đã nhấn mạnh trên đây,  đối với người đang bị mặc cảm khống chế, tất cả bốn loại sinh hoạt của nội tâm đều bị rối loạn, ối đọng và ô nhiễm :
Thứ nhất, nhận thức bị bóp méo, xuyên tạc, không phản ảnh thực tại khách quan bên ngoài.
   Thứ hai, lối nhìn về mình và về người khác có chiều hướng tiêu cực, phiến diện và một chiều. Khi đã không tìm ra giá trị nội tại của mình, họ không thể nào đặt niềm tin yêu vào kẻ khác, một cách lâu bền và trung thực.
Thứ ba, đời sống xúc động di chuyển từ cực đoan này đến cực đoan khác: khi thì câm nín, lo sợ, dồn nén, khi thì bùng nổ, bạo động, tràn ngập như nước vỡ bờ. Khi không tiếp xúc và lắng nghe tiếng kêu trầm thống của xúc động, làm sao tôi có khả năng khám phá những nhu cầu cơ bản của mình, trong cuộc sống làm nguời ?
Thứ bốn, trong địa hạt trao đổi giữa người với người, quan hệ nhị nguyên – Tao hơn Mày thua – là tên du kích len lỏi, nằm vùng trong tất cả mọi môi trường sinh hoạt. Đó là nguồn gốc hay là nguyên nhân phát sinh mọi phản ứng xung đột và hận thù, chia rẽ và bạo động, thậm chí giữa vợ và chồng, cha mẹ và con cái. Cũng vậy, giữa anh chị em đồng bào, trong lòng quê hương và dân tộc, thay vì bổ túc, kiện toàn cho nhau, và chấp nhận nhau… họ tìm cách phân biệt một cách rõ ràng: Ai trắng ai đen ? Ai hơn ai thua ? Ai mạnh ai yếu ? Ai bạn ai thù ? Và khi đã gắn cho ai nhãn hiệu "địch thù", họ sẽ tìm ra mọi cơ hội và lý chứng, để qui định vị trí của người kia trong hàng ngũ  phản loạn, phá hoại, và chống đối. Hẳn thực, theo cách nhận định của Tâm lý đương đại, lối nhìn là một "lời tiên tri", có khả năng biến thành hiện thực những tin tưởng có mặt trong nội tâm. Khi tôi tin làm sao, thế nào tôi cũng sẽ thấy thực tại y như vậy. Phải chăng cha ông chúng ta đã thường nhắc nhở: "Yêu nên tốt, ghét nên xấu" ?
 
Nói tóm lại, khi tôi bị mặc cảm khống chế, tôi không còn mở mắt, để nhìn. Không còn mở tai, để lắng nghe. Không còn mở rộng lòng, để học tập, đón nhận và tiếp thu những tin tức mới lạ trong cuộc đời. Cơ hồ một kẻ mê muội và mù quáng, tôi chỉ phản ứng, nghĩa là nhai đi nhai lại những sơ đồ tâm lý thô thiển và giản lược, đã có sẵn trong tâm tư từ bao nhiêu đời. Đó cũng là những tập tục xúc động xa xưa, cổ đại, đã lỗi thời, lạc hậu, không còn thích ứng với những tình huống của hiện tại. Thế nhưng, chúng nó vẫn còn bám trụ trong những tầng sâu của nội tâm, ngày ngày tiếp tục lèo lái, điều khiển, chỉ đạo toàn diện cuộc đời hôm nay của tôi, trong những lãnh vực nhận thức, tư duy, quan hệ, và giao tiếp.
 
2.1.  Những sơ đồ nội tâm
 
Nhằm trình bày một cách cụ thể thế nào là sơ đồ tâm lý, tôi xin liệt kê một số cơ chế hoạt động, thường xuyên có mặt và được vận dụng, mỗi lần chúng ta nhận thức về thực tại khách quan bên ngoài:
          Thứ nhất là sàng lọc hay là chủ quan hóa, có nghĩa là giữ lại những tin tức thích hợp với chờ đợi của mình, và loại bỏ bao nhiêu sự kiện khách quan khác cùng có mặt.
           Thứ hai là tổng quát hóa quá khích: sự kiện chỉ xảy ra một lần, đã được ghi nhận như một qui luật tất yếu, thường hằng.
           Thứ ba là phỏng đoán: giải thích một cách tùy tiện,  thể theo những tâm trạng và tâm tình hiện tại của mình, thay vì dựa vào những sự kiện khách quan để rút ra những kết luận.
           Thứ bốn là kết luận vội vã: rút tỉa những lời khẳng định, từ vài ba tin tức, trước khi kiểm chứng tính khách quan và đáng tin tưởng của những dữ kiện ấy.
          Thứ năm là cường điệu: thổi phồng, phóng đại ý nghĩa của một vài tin tức, và không đánh giá đúng tầm những kết quả toàn diện của vấn đề. Theo lối nói bình dân, đó là xu thế "có bé, xé ra to".
 
Thông thường, mỗi lần nhận thức về một vấn đề, tất cả chúng ta, không trừ sót một ai, đều sử dụng những cơ chế tâm lý trên đây. Tuy nhiên, những ai sống trong ánh sáng của ý thức và làm chủ bản thân mình, luôn luôn sẵn sàng "xét lại" và điều chỉnh cách hành xử của mình, khi phải đối diện với những ý kiến khác biệt của những người hai bên cạnh, nhất là những ai có lập trường hoàn toàn đối kháng với chúng ta. Có khả năng tư duy linh động, đầy sáng tạo là những người có thể quay trở lui, chấp nhận nhìn lại mình, với ánh sáng của những người khác đang có mặt trong nhiều môi trường và hoàn cảnh khác nhau. Trái lại, khi chúng ta bị mặc cảm khống chế, một trong năm lề lối nhận thức trên đây trở thành con đường độc lộ, một chiều. Chúng ta bám trụ, đóng chốt, giam hãm mình trong một lối nhìn khô cằn, vô hiệu, đang xuyên tạc và bóp méo thực tại. Đó là những sơ đồ tâm lý điều khiển, lèo lái những đường đi nẻo về hằng ngày của chúng ta. Chúng ta biến mình làm con tin, hay là "nạn nhân tự nguyện", thay vì sáng tạo bản thân và cuộc đời. Chúng ta vòng vo, luẩn quẩn, nhai đi nhai lại "những điều xưa bày nay làm". Chúng ta ngụp lặn trong khổ đau, héo mòn, tê liệt… nhưng không biết thoát ra ngoài bằng cách nào. Thực ra, ngục tù không phải ở ngoài, bao quanh chúng ta, do kẻ khác áp đặt. Ngục tù đang có mặt ở giữa nội tâm, trong chính lối nhìn của con người mang nặng mặc cảm.
 
2.2. Những tập tục xúc động
Thông thường, mỗi xúc động, bắt nguồn từ lối nhìn và được cảm nghiệm trong nội tâm. Những ai sáng suốt, sống trong ánh sáng của ý thức và có khả năng làm chủ bản thân, sẽ tìm cách bộc lộ, diễn tả mình một cách bình tâm, thể theo một tiến trình bao gồm bốn bước đi lên:
-   Bước thứ nhất là xác định những điều kiện khách  quan  của môi trường sinh sống hiện tại.
-   Bước thứ hai là gọi tên xúc động đang xuất hiện.
-   Bước thứ ba là phát hiện và diễn tả nhu cầu đang ẩn núp ở đằng sau mỗi xúc động.
-   Bước thứ bốn là tìm cách thỏa mãn hay là yêu cầu kẻ khác giúp mình thỏa mãn những nhu cầu chính đáng ấy. Khi gặp trở ngại, ở nơi này, với người này, tôi linh động đi tìm những điều kiện thuận lợi, ở nơi khác, với người khác, cho  đến khi nào được toại nguyện.
 
Thay vì sáng tạo và làm chủ vận mệnh của mình như vậy, những ai đang bị mặc cảm khống chế, sẽ có xu thế trở lui với những tập tục quen thuộc mà họ đã học tập, đắc thủ, trong những giai đoạn xa xưa, từ những tháng ngày thơ ấu, chung quanh 2 hoặc 3 năm cho đến 6 tuổi. Những tập tục xúc động này là những thể thức giải quyết vấn đề nhu cầu, có giá trị và hiệu năng cho một đưa bé chưa biết suy luận. Nhưng đối với những người đã bước vào tuổi trưởng thành, những tập tục xúc động này đã lỗi thời, lạc hậu, không còn thích hợp với điều kiện sinh sống hiện tại.
 
Vì lý do sư phạm, trong khuôn khổ của bài chia sẻ này, tôi chỉ trình bày một cách vắn gọn, mười tập tục xúc động chính yếu. Trong thực tế của cuộc sống làm người, những tập tục này giao thoa chằng chịt, kết dệt vào nhau, chồng chéo lên nhau, ảnh hưởng qua lại hai chiều.
           Thứ nhất, tôi cảm thấy bị bỏ rơi một mình, trong lòng cuộc đời. Không ai có mặt với tôi, bên cạnh tôi, thậm chí mẹ tôi. Cho nên, tôi lo ngại, sợ hãi.
           Thứ hai, tôi cảm thấy thiếu tình thương, không ai lắng nghe, lại gần. Tôi có những nhu cầu, tôi đói, tôi khát… Không có ai lưu tâm đến tôi. Cho nên, tôi bức tức, giận hờn, thét gào, buồn khổ, thất vọng. Rốt cuộc, tôi trầm mình trong lãnh đạm, khép kín mình, từ chối tiếp xúc.
           Thứ ba, tôi cảm thấy không có giá trị. Tôi không có tiếng nói. Tôi không có quyền phát biểu ý kiến riêng tư của mình. Cho nên, bề ngoài, tôi câm nín. Nhưng trong đáy sâu tâm hồn, tôi oán hận, phản loạn.
           Thứ bốn, tôi cảm thấy bị hà hiếp, lạm dụng. Cho nên, tôi nghi kỵ mọi người. Tôi không thể tin tưởng vào một ai. Tôi muốn đập phá, hủy hoại tất cả và xách gói ra đi, biệt tăm biệt tích.
      Thứ năm, tôi cảm thấy xấu xí, dễ ghét, bị coi thường, khinh thị và bạc đãi. Nói khác đi, tôi cảm thấy mình chỉ là phế liệu, trước con mắt mọi người. Cho nên, tôi xa lánh mọi người. Hay là, theo luật bù trừ, tôi có những hành vi ngang tàng, bướng bỉnh, lập dị. Tôi tỏ thái độ bất cần, trước nhận xét của người khác, trong đó có những người thương tôi, muốn xây dựng, đóng góp cho tôi.
           Thứ sáu, tôi cảm thấy bị loại trừ. Bạn bè không cho phép tôi nhập vào hàng ngũ, cùng chơi đùa với họ. Cho nên, tôi cảm thấy mình cô đơn, lạc lõng. Tôi chỉ là con vịt giữa bầy gà. Không ai giống như tôi. Cuộc sống thật cô đơn, hãi hùng, buồn chán.
          Thứ bảy, tôi cảm thấy bị đe dọa. Giữa đấu trường của cuộc đời đầy hiểm nguy và cạm bẫy, không một ai bênh đỡ tôi. Cho nên, tôi run sợ, lo âu. Tôi cảm thấy bất ổn, trong mọi nơi, với mọi người.
          Thứ tám, tôi cảm thấy vụng về, thất bại. Cha mẹ tôi thường trách mắng: mày đụng vào đâu, là hư hại ở đó. Cho nên, bây giờ, tôi không dám mạo hiểm. Sở dĩ tôi thành tựu được một đôi việc, là do tình cờ may rủi mà thôi.
          Thứ chín, tôi cảm thấy băn khoăn, lo ngại, cầu toàn. Tôi không bao giờ thấy mình thành đạt một cách mỹ mãn, trong bất cứ công việc gì. Kết quả cụ thể không mang lại niềm vui, vì tôi luôn luôn thấy mình "chưa đạt", thất bại, ở dưới trung bình. Khuyết điểm còn có mặt khắp nơi. Khi quét nhà, thế nào tôi cũng tìm thấy rác trong mọi xó xỉn.
            Thứ mười, tôi cảm thấy mình ngoại lệ, xuất chúng. Cho nên, tôi không tuân thủ những qui luật và những giới hạn bình thường, giống như mọi người. Vì quá đề cao và chú trọng những điểm khác biệt trong con người, tôi bỏ quên những đồng điểm, đang nối kết tôi lại với người khác. Khi cho phép mình sống ngoại lệ, khác người, tôi không ý thức rằng: tôi thuộc loại người "phạm pháp, vô kỹ luật", có xu thế thống trị và đàn áp người anh chị em. Những xung năng rừng rú, man dại của tôi không được giáo hóa, để chấp nhận những khuôn khổ tất yếu của cuộc sống làm người.
 
2.3. Yếu tố dẫn khởi
 
Tất cả những sơ đồ tâm lý và những tập tục xúc động, như tôi đã nhấn mạnh trong các phần vừa qua, đã xuất hiện và thành hình, trong cuộc đời của một đứa bé, trước 6 tuổi. Vào giai đoạn tăng trưởng và phát triển này, khả năng suy luận chưa có mặt. Tuy dù  đã xuất hiện, ngôn ngữ chưa phải là phương tiện tinh nhuệ, thuần thục, cho phép trẻ em bộc lộ nội tâm, diễn tả những xúc động và ý thức về những nhu cầu của mình. Trong lãnh vực nhận thức, trẻ em cũng chưa thể phân biệt một cách rõ ràng, rành mạch, thực tại khách quan bên ngoài và những tâm tình, tâm trạng bên trong nội tâm. Nói theo ngôn ngữ của Phân Tâm học, trẻ em đang còn sống trong chế độ vô thức. Do đó, trẻ em chỉ phản ứng một cách máy móc, tự động, khi cảm nghiệm một cách mơ hồ một nhu cầu thể lý như đói và khát… khi ghi nhận một kích thích trên làn da, thớ thịt của mình, như nhiệt độ nóng lạnh, ánh sáng chói chang, sự có mặt hay vắng mặt của mẹ.
 
Những cảm nghiệm bên trong hay là những kích thích bên ngoài, vào giai đoạn này, đều là những yếu tố dẫn khởi (Trigger trong tiếng Anh, hay là déclencheur trong tiếng Pháp, không thể lẫn lộn và đồng hóa với Cause có nghĩa là nguyên nhân phát sinh và tạo ra kết quả). Đó chỉ là những điều kiện, những cơ hội, có phần vụ gợi ý, để trẻ em bộc lộ những phản ứng xúc động của mình. Cứ mỗi lần yếu tố dẫn khởi có mặt, là bấy nhiêu lần trẻ em có phản ứng xúc động. Ngày này qua ngày khác, được lặp đi lặp lại nhiều lần, phản ứng sẽ trở thành một tập tục ổn định, kiên cố. Yếu tố dẫn khởi được so sánh như một nút bấm hay là một loại "công tắc" điện. Công tắc được bấm lên, thì ánh sáng xuất hiện. Con người bị mặc cảm khống chế, cũng có xu thế phản ứng giống y hệt như vậy. Khi có một yếu tố dẫn khởi tương tự như trước đây, tái xuất hiện trong môi trường sinh hoạt hiện tại, hay là trong các quan hệ tiếp xúc, thì người ấy phục hoạt, làm sống lại một cách tự động toàn bộ tập tục xúc động của mình, giống như trong tuổi thời thơ ấu. Cơ hồ, khi "rút một chiếc giây leo", chúng ta "làm chuyển động cả một khu rừng già". Yếu tố dẫn khởi có thể là một nhận xét vẩn vơ, một giọng nói, một liếc nhìn, một tà áo… có khả năng gọi trở về toàn bộ những kinh nghiệm xúc động u tối, ảm đạm, nhức nhối và thương đau, thuộc quá khứ.
 
3. Phương thức  hóa giải
 
Hóa giải, theo lối nhìn của Phân Tâm Học, không có nghĩa là diệt trừ, tiêu hủy hay là làm tan biến. Với tinh thần BẤT NHỊ và bất bạo động, tôi chấp nhận, nhìn nhận và đón nhận tất cả những gì đang có mặt, trong hành trang của bản thân và cuộc đời. Hiện tại, Tự Ngã còn rừng rú, man rợ. Nhưng đó là nguồn nguyên liệu quí hóa. Siêu Ngã đang khắt khe và hạn chế, cơ hồ nhiều con đường "đầy ổ gà", đó đây trên Quê hương. Nhưng chính tôi cố quyết ra tay kiến dựng những con đường mới, nối lại những chiếc cầu gãy đổ.
 
Nhìn nhận như vậy không có nghĩa là chịu đựng, buông xuôi, đầu hàng, bất động,  “nhắm mắt đưa chân, để xem Con Tạo xoay vần nơi nao". Trong lòng cuộc đời, chúng ta là người luyện vàng, có khả năng chuyển biến đồng, chì, sắt thép… và bao nhiêu quặng sản khác thành vàng nguyên chất. Và để có khả năng luyện vàng như vậy, chúng ta phải HỌC. Phải HỎI. Phải tay làm hàm nhai. Phải đổ mồ hôi sôi nước mắt. Phải bắt tay vào làm. Không ngồi đợi, một cách vớ vẩn, quả sung từ trời rơi xuống trong miệng của mình. Phép lạ ở trong lòng cuộc đời. Phép lạ có mặt trong những khó khăn mà chúng ta đang gặp, trên từng bước đi, từ ngày vào đời. Thay vì ngồi ù lì, bất động, phàn nàn, chưởi bới, chúng ta hãy THẤY: Nếu chưa có một ngàn, chúng ta đang có một trăm. Nếu chưa có một trăm, ít nhất chúng ta đang có mười. Nếu mười chưa có, phải chăng chúng ta đang có một ? Thậm chí một cũng thiếu vắng, lúc bấy giờ, chúng ta vẫn còn có thể làm bùn đất, để vun bón một dây khoai, một củ chuối… Đối với một con người cần cù, lam lũ, Phép lạ luôn luôn có mặt trong bàn tay của mình.
Hởi người Em, mà tôi đã đặt tên là Lý Minh Nguyệt trên đây, có nghĩa là Mặt Trăng Sáng. Em đang sợ, sợ đến độ tê liệt như một đứa bé chung quanh tuổi đời 8-9 tháng. Em đang muốn bám chặt tà áo của mẹ, và không chịu đựng được tình huống xa rời mẹ… cho phép mẹ đi chợ, đi thăm ruộng đồng… Em hãy lắng nghe lời ca dao:
 
          "Ra đi, biết đó, biết đây.
          Ở nhà với Mẹ, biết ngày nào khôn ?"
 
Với tuổi đời 69, tôi cũng "khóc nhè" như trẻ thơ, mỗi lần xa quê hương, xa mẹ. Xa anh chị em bạn bè. Xa khóm lau, bụi chuối, xa khu vườn trồng rau của mẹ. Xa bờ ao mà ngày trước, tôi thường ra ngồi câu cá, để đợi mẹ đi chợ trở về. Có người đã chê cười, gắn cho tôi nhiều nhản hiệu như: "ấu trĩ, bệnh hoạn, tâm thần…". Tôi đã ngã bệnh, thoái hóa, tê liệt, kiệt quệ trong một thời gian. Nhưng, như tôi đã nói trước đây, phép lạ có mặt trong mỗi người, mỗi cuộc sống. Tôi đã vùng chỗi dậy. Và tôi đã nghĩ đến thân phận mong manh, yếu mềm của những đứa em, giống như tôi. Cho nên, tôi đã nghiên cứu, học hỏi… Kết quả là tôi đã khám phá được kỹ thuật đồng cảm và ý thức hóa những xúc động, bằng cách từng bước kinh qua bốn giai đoạn vươn tới.
 
Hôm nay, sau khi trình bày nỗi lo sợ làn tràn, lây lất… đang khống chế nội tâm của em, em hỏi tôi: cần làm gì, để thoát ra ngoài vòng vây hãm độc hại ấy. Tôi xin cám ơn Em, về lòng tin tưởng và những lời tâm sự ấy. Câu trả lời của tôi: Phép lạ ở trong em. Em hãy "làm phép lạ" cho mình và cho người. Tự khắc, phép lạ sẽ đâm chồi, nảy lộc, kết sinh hoa trái. Em không làm phép lạ, thì không có một ai trên Trời, dưới Đất có thể làm phép lạ, thay thế cho Em.
 
Làm phép lạ là biến bệnh hoạn, mặc cảm… thành sức sống tràn đầy và vươn lên.
-  Mặc cảm, như bây giờ em đã biết, xảy ra khi Siêu Ngã áp chế cho chúng ta những tư duy độc lộ, ép buộc chúng ta  nhắm mắt đi theo những con đường MỘT CHIỀU.
-  Mặc cảm là tai họa, gông cùm… khi xung năng đảo lộn mọi qui luật và thứ tự tất yếu của cuộc đời.
-  Khi mặc cảm trấn ngự bản thân, chúng ta bơ vơ, lạc lỏng, không biết mình là ai. Nhu cầu cơ bản của tôi là gì ? Nhu cầu của người khác bị tôi khinh thị và đàn áp…
Sinh lực và năng động,  trái lại, là hoa trái, mùa màng, khi chúng ta thực thi những động tác cụ thể như sau:
 
Chủ động trở thành một Siêu Ngã có khả năng soi sáng và hướng dẫn người khác, nhất là trẻ em và giới trẻ, trong môi trường gia đình và xã hội. Thay vì làm Siêu Ngã độc tài và đàn áp những sức sống hồn nhiên, yêu đời. Hay là tạo bầu khí ngột ngạt, đầy tố cáo, phê phán, xung đột và hận thù trong mọi quan hệ trao đổi giữa người với người.
 
Cho phép trẻ em và giới trẻ phát biểu ý kiến của mình.
 
Dạy cho trẻ em và giới trẻ diễn tả xúc động và ý nguyện của mình một cách cởi mở, bình tĩnh, lịch sự và an toàn.
 
Đồng cảm, nghĩa là lắng nghe, tìm hiểu, đón nhận và nhìn nhận những khó khăn, vấn đề và nỗi lòng ấm ức của người đối diện.
 
Tạo những điều kiện thuận lợi, thuộc mức độ thực tế của mình, để kẻ khác có cơ may thỏa mãn những nhu cầu chính đáng của họ.
 
Khi chúng ta có khả năng CHO như vậy, tự khắc chúng ta sẽ NHẬN lại một quà tặng cao quí: Trở thành NGƯỜI. Khi chúng ta giúp kẻ khác hóa giải những mặc cảm đang khống chế nội tâm và làm băng hoại cuộc đời của họ, mặc cảm không còn là trở ngại. Mặc cảm đã trở nên cho chúng ta một bài học, một kinh nghiệm. Nhờ đó, chúng ta biết đồng cảm với những người đang khổ đau, trong cuộc đời. Không can trường đi vào vùng bão tố, làm sao chúng ta tìm ra cho mình và cho người khác, con đường đi ra khỏi bão tố ?
 
 
 
 
 
 
****
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 
[1] Trung Tâm Văn Hóa Nguyễn Trường Tộ, 13 g rue de l’Ill –  F.67116     Reichstett, France.
Thời gian họp mặt: từ chiều thứ 6, ngày 29 tháng 08 năm 2008 đến tối Chủ nhật ngày 31 tháng 08 năm 2008. Địa điểm họp mặt: Maison Notre Dame du Chant d’Oiseau 3-A, Avenue des Franciscains 1150 – Bruxelles, Belgique.
[2] một trong những học viên của tôi trong các lớp hè 2005-2007.