CUỘC ĐẤU TRÍ REAGAN - GORBATCHEV

TIẾT LỘ MỚI CỦA ĐẠI SỨ SÔ VIẾT ANATOLY DOBRYNIN

VÌ SAO CHỦ NGHĨA MÁC LÊ SỤP ĐỔ ?

CUỘC ĐẤU TRÍ REAGAN - GORBATCHEV


*** LÂM LỄ TRINH ***


Nhà xuất bản Random House Inc. , Times Books, cho phát hành cuối năm 1995 tại New York hồi ký của Anatoly Dobrynin , nguyên Đại sứ tại Washington từ 1962 đến 1986. Liền sau khi ra mắt đọc giả, tác phẩm “ In Confidence, Chuyện bí mật “ được giới truyền thông đánh giá như sử liệu hàng đầu về giai đoạn kết thúc của Chiến Tranh Lạnh và sự tàn rụi của Xã hội chủ nghĩa tại Đông Au. 
Dobrynin , đúng vậy , đã trực tiếp tham gia hơn hai thập niên những diển tiến thay đổi bộ mặt thế giới hiện đại . Ong đại diện Liên bang Sô viết liên tục 24 năm bên cạnh 6 Tổng thống Mỹ, từ J. F. Kennedy đến Ronald Reagan, và qua nhiệm kỳ cũa 5 Tổng bí thơ CS Nga : Khrushchev, Brezhnev, Andropov, Chernienko và Gorbatchev. Năm 1944 ,  kỷ sư hàng không Gorbatchev, 25 tuổi, được chuyển với một số chuyên gia , từ xưởng chế tạo máy bay Yakovlev qua Bộ Ngoại giao . Sau môt thời gian tập sự tại Hàn lâm viện Ngoại giao và đổ cấp bằng Tiến sĩ  Sử học , ông là giảng viên tại  Đại học Bang giao quốc tế Moscou và đồng thời, làm việc liên tiếp dưới quyền của các Ngoại trưởng Molotov, Vyshinsky, Zorin và Gromyko. Với tư cách Cố vấn Tòa Đại sứ Nga tại Washington , Dobrynin tham dự ba cuộc họp thượng đỉnh tháng 7.1955 giữa Khrushchev và Eisenhower tại Genève, tháng 5. 1960 giữa Khruschev, Eisenhower, Mc Millan và De Gaulle tại Paris và tháng 7.1961 giữa Kennedy và Khruschev tại Vienne, trước khi lảnh chức Đại sứ ở Hoa kỳ tháng giêng 1962 . Năm 1986 , Gorbatchev chuyển ông về Chánh trị bộ để phụ trách khu Bang giao Quốc tế với tư cách Bí thơ Đảng CS. Hưu trí một thời gian, Dobrynin trở lại làm Tham vấn cho Bộ Ngoại gia Nga từ 1991 đến 1995.

Trong quyển hồi ký 674 trang của Dobrynin, 7 chương  chót đáng chú ý vì trình bày chi tiết của hai giai đoạn trong chiến thuật Reagan đối với Xã hội chủ nghĩa, trường hợp và lý do thật sự khiến chủ thuyết mạc xít kết thúc tại Au châu.

Reagan , “ người chủ chiến  điên rồ ”

Reagan đắc cử Tổng thống năm 70 tuổi và tại chức  từ 1981 đến 1989.  Trong nhiệm kỳ đấu , ông công khai chống đường lối hòa hoản, detente,  của các tiền nhiệm, đối với Liên bang Sô viết mà ông mệnh danh là “ Đế quốc ác ôn, The Evil Empire “. Xoay lưng lại dĩ   vãng , Reagan không chấp nhận chủ trương “ bình đảng hóa quân sự  Mỹ - Nga” và đề nghị thay hiệp ước SALT, Strategic Arms Limitation treaties, bằng những thương thảo START. Strategic Arms Reduction, nhằm giảm bớt thay vì giới hạn vỏ khí chiến lược . Ngoài ra,  ông cho tái vỏ trang Hoa kỳ bằng đề án SDI, Strategic Defense Initiative, gọi nôm na là “ Chiến tranh Không gian” . Nhà đạo diển Hollywood George Lucas liền chụp lấy đề tài này để làm hai cuốn phim danh tiếng “Star Wars” và “ The Day After “. Từ 1981 đến 1984, Reagan tránh họp thượng đỉnh với Tổng Bí thơ Brezhnev , công kích mạnh Moscou trong diển văn và không xử dụng đừng giây liên lạc bí mật với Điện Cẩm linh như dưới thời Nixon và Carter. Chánh sách đối đầu này làm cho nhà cầm quyền CS lo ngại và bực tức. Chánh giới Nga sô tặng cho Reagan biệt danh “ The Crazy Warmonger , Người chủ chiến điên rồ “. Trùm KGB Andropov được phép tổ chức mạng lưới tình báo lớn nhứt trong thời bình RYON, Raketno- Yadernoye Napadenie, hay Nuclear Missile Attack, để theo dỏi “ âm mưu của Hoa kỳ tấn công trước bằng hỏa tiển , American First Strike “ .  Reagan thường lập lại rằng “ sức mạnh và thương thuyết phãi đi đôi “  hay nói cách khác, cần thục hiện Hòa bình bằng Sức mạnh . Ong đích thân lảnh đạo đường hướng đối ngoại . Khi Ngoại trưởng Alexander Haig bốc đồng tự xưng là “ tổng lảnh, Vicar “ của chánh sách ngoại giao Hoa kỳ thì đương sự bị thay thế năm 1982 bởi George Shultz , trầm mặc và kín đáo hơn . Theo Dobrynin, Reagan là vị Tổng thống chống cộng cuồng tín nhứt trong thập niên 80 - 90 và chịu ảnh hưởng không ít của bà Nancy Reagan. Nhiệm kỳ đầu của Reagan mang lại xui xẻo cho Điện Cẩm linh . Ba Tổng Bí thơ tiếp nối về chầu Các Mác : Brezhnev ngày 10.11.1982 vì bịnh tim, Andropov ngày 9.2.84 vì thận suy và Chernienko ngày 10.3.85 vì phổi yếu. Mikhail Gorbatchev, được Andropov đở đầu, trở thành nhân vật  quan trọng Bộ Chánh trị từ 1984 và thay Chernienko. Tại Tòa Bạch Oc, cho đến 1983, nhóm cố vấn bảo thủ của Reagan gồm có Bộ trưởng Quốc phòng Caspar Weinberger, Giám đốc CIA Wolsey, Chánh văn Phòng E. Meese, Phụ tá An ninh W. Clark, J. Kirkpatrick… thắng thế rỏ rệt .  Ngày 11.8.1984, trong lúc thử máy phát âm trong buổi nói chuyện hằng tuần với công chúng trên ra- dô , Reagan nói diểu :” Đồng bào tại Hoa kỳ, tôi hân hạnh báo tin cùng các bạn rằng tôi vừa ký lệnh đặt Nga sô ngoài vòng pháp luật. Chúng ta sẽ thả bom trong 5 phút  !”.  Ong không ngờ micro vẫn gắn điện và mở ra. Điện Cẩm linh không thích thú về câu chuyện giả ngộ này và phản đối kịch liệt qua thông tấn xả Tass. Hoa Thịnh Đốn tố ngược Mạc Tư Khoa gây hấn để tuyên truyền. Ngày 31.8.1984, chiến đấu cơ Nga hạ trên đảo Sakhalin thuộc không phận CS chiếc máy bay dân sự Nam Hàn KAL 007 chở 269 hành khách gồm có một dân biểu HK. Bang giao Nga- Mỹ khủng hoảng trầm trọng.

Reagan , “ chiến sĩ nhiệt tình của Hòa bình “.

Năm 1984, Reagan đắc cử nhiệm kỳ nhì với một số thăm cao, đánh bại Walter Mondale, đại diện đảng Dân chủ . Để xoa dịu  mối lo ngại gia tăng của các đồng minh Au châu và quần chúng Mỹ trước viển ảnh một cuộc Chiến tranh lạnh khác, các cố vấn thuộc cánh “thực tiển, pragmatist “ như Ngoại trưởng Shultz , Phó Tổng thồng Bush, bà Nancy Reagan, Cố vấn R. Mc Farlane, Chánh văn phòng J. Baker, Bí thơ M. Deaver..thuyết phục Reagan hảm bớt sự tấn công về ý thức hệ và thăm dò đối phương để tiến tới một phiên họp thượng đỉnh .Đã đến lúc cần tạo ra trong công luận hình ảnh một Reagan “chiến sĩ hòa bình” , Reagan Peacemonger . Moscow tỏ thiện chí bằng cách cho phép xuất ngoại - theo sự can thiệp của Tòa Bạch Oc - vài phần tử đối kháng như bà Bonner, vợ của khoa học gia Sakharov, và nhóm giáo dân Pentecostals . Tân Tổng bí thơ Gorbatchev được Thủ tướng Anh quốc Margaret Thatcher nồng nhiệt tiếp đón trước đó tại Văn phòng 10 Downing street, Luân đôn,  và đề cao  với Reagan như một  nhân vật  cởi mở, có thể nói chuyện xây dựng.  Để củng cố vi cánh , Gorbatchev thay Ngoại trưởng Gromyko - 30 năm tại chức - bằng một đồng chí thân tín E. Shevardnadze , Bí thơ Georgia , không thưộc ngành ngoại giao . Gromyko trở nên Chủ tịch Nhà nước , một hư vị  . Đại hội Đảng CS chuẩn nhận việc bầu Gromyko và đồng thời, Boris Yeltsin, đại diện cho vùng Sverdlovsk , được đưa vào Chính trị bộ. 

Ngày 19.11.1985, Reagan , 74 tuổi, gặp Gorbatchev , 54, lần đầu tiên tại Genève . Giới truyền thông gọi phiên họp thượng đỉnh này “ The Fireplace Summit “ vì hai nhà lảnh đạo tạo được một bầu không khí tương kính và thảo luận thân mật tại biệt thự Fleur d’ Eau, ngoại ô Thủ đô Thụy sĩ , cạnh lò sưởi, giữa mùa đông . Theo Dobrynin, vào lúc đó, Gorbatchev chưa có sẳn một kế hoạch chính trị quy mô mạch lạc  và quan niệm an ninh của y về Hoa kỳ còn mù mờ . Mục tiêu thiết yếu của Gorbatchev là thử thuyết phục Mỹ hủy bỏ vỏ khí không gian và giảm vỏ khí hạt nhân đồng một lúc . Cá nhân Reagan củng không nắm vửng chi tiết về vấn đề tài binh . Cả hai đồng ý  giảm 50% vỏ khí chiến lược và cắt sâu chương trình START nhưng không giải quyết được việc ngưng kế hoạch SDI. Đôi bên dự trù hai phiên họp khác . Vào phút chót, Gorbatchev chấp nhận bất ngờ cho ghi vào bản thông cáo chung một điều khoảng liên hệ đến sự cam kết của Chính phủ Nga “ giải quyết các trường hợp có tính cách nhân quyền trong tinh thần cọng tác “ . Tổng kết , thượng đỉnh Genève được coi như có kết quả khích lệ vì thành công tháo gở hàng rào tâm lý chia cách hai đối thủ lâu năm và mở đường cho các cuộc tiếp xúc khác . 

Đầu năm 1986, để tuyên truyền và  nắm thế thượng phong, Gorbatchev tung ra đề án giải trừ quân bị toàn diện, disarmament plan,  cho năm 2000 , qua 3 giai đoạn : vỏ khí hạt nhân, vỏ khí không gian và vỏ khí quy ước . Tài liệu này là công trình nghiên cứu mật của Thống chế Sergei Akhromeyev , Tổng tư lịnh Quân đội sô viết, và Thứ trưởng Ngoại giao Georgi Kornienko.  Thế giới hoan nghinh sáng kiến nhưng Reagan tỏ ra dè dặt . Dù sao , Reagan đã phê bình tốt Gorbatchev với các cọng sự viên :” Ong ta là một người cộng sản có đức tin nhưng có thể nói chuyện được “.

Ngày 15.1.1986, hội nghị thượng đỉnh thứ hai được tổ chức tại Reykjavick, Iceland . Đề tài chính đem ra thảo luận là vỏ khí nguyên tử  và vỏ khí không gian . Hội nghị thất bại vì thiếu chuẩn bị. Tuy nhiên , có sự đồng thuận rằng chiến tranh nguyên tử không thể chấp nhận, unacceptable, và không thể thắng được, unwinnable. Gorbatchev tỏ ra hối hả thực hiện ý riêng. Thất vọng về kết quả phiên họp, Gorbatchev than phiền với Reagan trong buổi nhóm chót :” Thưa Tổng thống, ông đã bỏ qua cơ hội duy nhứt để đi vào lịch sử như một Tổng thống mở đường cho việc giải giới nguyên tử ! “ . Reagan trã lời với giọng ảm đạm :“ Câu này áp dụng cho cả hai chúng ta “.

Tại Nga, Gorbatchev thi hành chính sách Đổi Mới “ The New Thinking Policy “ , gồm có hai chủ trương : Glasnost [1](Trong sáng/ Công khai ) và Perestroika (Tái cấu trúc ). Hiến pháp được tu chính với một Quốc hội dân cử , Gorbatchev kiêm nhiệm hai chức Tổng bí thơ và Tổng thống , Politburo chỉ còn đóng vai trò thứ yếu và mất quyền truất phế lảnh tụ như dưới thời Khrushchev . Gorbatchev bổ nhiệm vây cánh vào các chức vụ then chốt : Lukjanov, Boldin, Ligachev và Yakovlev. Về đối ngoại, cặp bài trùng Gorbatchev - Shevardnadze đốt giai đoạn trong việc thương thuyết với Hoa kỳ. Dobrynin ghi nơi trang 629 của hồi ký :” Gorbatchev trở nên nóng nảy và nghỉ rằng ông không còn nhiều thời giờ “. Ngày 29.5.1987, qua mặt Quân đội Sô viết, một phi cơ tư nhân hai chổ ngồi phát xuất từ Đông Đức, đáp xuồng Công Trường Đỏ tại Moscow . Tổng trưởng Quốc phòng Sokolov - xưa nay vẩn chống đối Shevardnadze - buộc phãi từ nhiệm . Người thay thế là tường Dmitri Yasov, thiếu khả năng nhưng dể bảo.

Tháng chạp 1987, nhóm thượng đỉnh lần thứ ba mà củng là lần chót giữa Reagan và Gorbatchev tại Washington để ký một thỏa ước về loại hỏa tiển tầm trung , đồng lúc Nga chịu tháo gở các giàn SS-20S tại Au và Á châu với mong ước Mỹ sẽ nhân nhượng về điểm khác . Reagan không  ngớt lập lại quy tắc căn bản :” Tin nhưng phãi kiểm soát, Trust but Verify “.   Uy tín của Gorbatchev lên cao ở hải ngoại nhưng tuột dốc thê thảm sau 4 năm cầm quyền tại Nga[2] , đặc biệt trong đảng và quân đội . Quần chúng và quân nhân thất vọng và mất tinh thần vì cho rằng Chính phủ nhân nhượng quá đáng về ngoại giao .

Không đầy một tháng sau khi đắc cử Tổng thống, G. Bush nhóm thượng đỉnh với Gorbatchev tại Malte  ngày 2 và 3.12.1989.  Trước đó vài tuần, bức tường Bá linh ( dựng lên ngày 18.8.1961) sụp đổ. Gorbatchev trấn an thế giới :” Chủ thuyết Brezhnev đã cáo chung “ , ngụ ý Nga sẽ không bảo vệ các thể chế CS tại Đông Au bằng vỏ lực .Tại thượng đỉnh Washington ngày 2.6.1990, Gorbatchev chấp nhận cho Đông Đức sáp nhập với Tây Đức và tùy ý quyết định về vấn đề tham gia NATO . Một tháng sau, khi họp với Thủ tướng Helmut Kohl , ông tiến thêm một bước : không phản đối nước Đức thống nhứt trở nên hội viên của tổ chức quân sự Tây phương này . Tất cà quyết định đã xảy ra không tới nửa năm ! Các ủy viên Politburo ngở ngàng và tức giận nhưng thụ động vì bất lực  . Dobrynin viết nơi trang 639 của In Confidence:” Tôi nghĩ Gorbatchev không bao giờ dự đoán toàn khối Đông Au có thể thoát ra khỏi quỷ đạo Sô viết trong vòng vài tháng và Hiệp ước Varsovie tan rã sớm như thế !”. Gorbatchev không ngớt nhắc lại - một cách vô vọng - rằng chủ đích của y là cọng tác với Tây phương để tạo ra một hệ thống an ninh mới trong một khối Au châu mới. Tây phương và luôn cả Hoa kỳ - dù có hứa miệng tại Malta - không vồn vả cứu nguy Gorbatchev vì không muốn liên hệ đến nội bộ của Đế quốc Sô viết .

Tình hình  chính trị, kinh tế và xã hội tại Nga trở nên rối loạn . Hy vọng dân chủ hóa xa vời biền biệt . Tới giờ chót , Gorbatchev vẫn đề cao “ Xã hội chủ nghĩa hơn nữa, Dân chủ hơn nữa !”. Đảng, quân đội và quần chúng bỏ rơi lảnh tụ. Ngày 25.12.1991. Gorbatchev tuyên bố từ chức sau khi hú hồn thoát khỏi vụ đảo chính hụt.  Lá cờ Búa Liềm bị hạ. Vị Tổng thống đầu tiên và cuối cùng của Liên bang Sô viết rời Điện Cẩm linh. Liên hiệp Các Quốc Gia Tự Do ra đời.  Vài giờ trước khi về vườn , Gorbatchev  - hoàn toàn cô đơn - điện thoại từ giả và cám ơn George Bush . Dobrynin ghi lại trong trang chót của ký ức một điểm đắbg cay : Ngày 15.12.1991I, Bush phái Ngoại trưởng James Baker qua Moscow để khuyên khéo tân Tổng thống Boris Yeltsin nên bàn giao chức vụ với Gorbatchev một cách “ biểu thị nhân phẩm , in a dignified way ” và đừng “ hạ nhục” vị tiền nhiệm bằng một thủ tục truy tố hình sự . Yeltsin đã lắng nghe ý kiến .

Lý do sụp đổ của Xã hội chủ nghĩa.

Dobrynin công nhận Reagan có công lớn với Gorbatchev chấm dứt Chiến tranh lạnh và điều này phần nào đã làm  cho chế độ sô viết tan rã . Có lúc Reagan  đẩy bang giao  Nga - Mỹ đến bờ vực thẩm, gây khủng hoảng nhiều hơn Jimmy Carter , để sau đó, tái lập hòa khí bằng thương thuyết , thành công qua mặt cả Nixon . Điện Cẩm Linh coi Reagan như một nghịch lý ( paradox ) và một bí ẩn ( enigma ), nguy hiểm vì chống cộng cố hữu và thưc tiển , uyển chuyển trong hành động tuy lời lẽ lắm khi thô bạo, không mấy sâu sắc về trí tuệ nhưng có thủ đoạn lảnh tụ. Reagan không nghĩ rằng hai giai đoạn trong chính sách của ông mâu thuẩn với nhau, trái lại có tính cách bổ túc sít sao .

Một câu hỏi thường được đặt ra : Có phãi kế hoạch “Chiến tranh không gian SDI ” của Reagan - quá mắc và vượt hẳn khả năng tài chính của Liên Sô - đã làm cho nước này kiệt quệ kinh tế , kéo theo sự sụp đổ chính trị của chế độ ? Dobrynin  quả quyết trã lời “ không “ vì theo ông, dân Nga sẳn sàng hy sinh , dù đến mức nào, khi tổ quốc lâm nguy . Lý do là Lịch sử đã dung rủi đưa Gorbatchev gặp Reagan, cả hai lảnh tụ đại cường đều có chung một chủ đích : giải thoát nhân loại khỏi nạn diệt vong nguyên tử. Chính những sai lầm chiến lược của Gorbatchev  trong kế hoạch “ tái sinh  xã hội chủ nghĩa “ đã làm cho  Nga sô tan rã [3] . Các lý do  thật sự có thể tóm tắc như sau

1 - Về đối ngoại : Sự thống nhứt Đông và Tây Đức không thể tránh , tuy nhiên Gorbatchev thiếu chuẩn bị và thực hiện quá sớm . Vì thế Đông Au và Hiệp ước quân sự Varsovie bị đổ vỡ giây chuyền .
2 - Về  đối nội : A )- Kế hoạch Đồi Mới là một tai biến . Gorbatchev muốn dung hòa xã hội chủ nghĩa và tư bổn chủ nghĩa  để cải cách kinh tế. Y tránh dùng danh từ capitalisme trước công chúng khi nói đến chương trình kinh tài. Thực tế, Gorbatchev không nắm vửng phương cách giải quyết vấn đề. Dobrynin quả quyết không bao giờ đượcc nghe Tổng bí thơ CS trình bày , từ 1986 đến 1989, trước Politburo một kế hoạch nào trong chi tiết . Các quyết định đều có tính cách ứng biến , khiến Thủ tướng Trung hoa Lý Bằng than phiền không thể nghiên cứu nghiêm chỉnh quan điểm của Gorbatchev vì thường xuyên thay đổi. Khi nhấn mạnh với Trung ương Đảng bộ năm 1986 nhu cầu cấp thiết cải cách, dù chưa biết thực hiện kiểu nào, Gorbatchev đã nhắc lại lời nói của Lê Nin :” Điều tối hệ trong mọi nổ lực là dấn thân vào cuộc tranh đấu , và bằng cách đó, học hỏi phãi làm gì kế tiếp “. B ) - Gorbatchev làm suy yếu đảng CS Nga nhưng không thay thế được bằng một cơ cấu quyền lực hữu hiệu mới . Chính sách Glasnost - Perestroika cho phép các thành viên Politburo chỉ trích phê bình cấp lảnh đạo . Để tránh nội loạn cung đình, chế độ đại nghị được thiết lập nhưng tháng 8.1991, Quốc hội xoay qua ủng hộ Yeltsin và bỏ rơi Gorbatchev.  C ) - Gorbatchev đã đốt giai đoạn để tạo uy tín cá nhân và không nhận định rỏ các ưu tiên thực tế quốc gia , ở trong và ngoài nước - không kiểm soát nổi những bão tố bung ra từ chủ trương Đổi mới vốn là một sáng kiến tốt  nhưng không được điều nghiên chu đáo . Bởi thế xáo trộn chính trị và kinh tế nổ tung , đốt cháy luôn nhân vật chủ trương [4].

                                       
                                      *                    *                         *                                         


Dobrynin kết thúc bằng một nhận xét chót : Chiến tranh lạnh là một đồi trụy , một sự lạc hướng tạm thời, a temporary perversion, của thế giới , căn cứ trên ý thức hệ hơn là trên những quyền lợi chính yếu quốc gia . Cần cởi bỏ hoàn toàn và vỉnh viển tâm trạng chiến tranh lạnh . Tại Nga , dân không cho rằng đất nước của họ bại trận trước Hoa kỳ . Họ nghĩ chế độ  Sô viết đã bị lật đổ do cố gắng đấu tranh dai dẳng của quần chúng trong xứ và nhu cầu của thế cuộc . Nga và Mỹ cần hiệp lực để hoàn thành và củng cố dân chủ .

Franklin Roosevelt tin tưởng kinh tế mậu dịch cần được điều chỉnh liên tục bởi chính quyền . Trước đó , Abraham Lincoln đã tuyên bố năm 1864 tại Baltimore :” Tất cả chúng ta đều cổ vỏ dân chủ nhưng khi dùng danh từ này, chúng ta không luôn luôn hiểu cùng  một cách “.  Lắm khi tư tưởng bất đồng và quyền lợi va chạm . Thế giới cần tìm ra một phương thức để dị biệt mà không gây tổn hai cho cái thế hợp tác giữa các quốc gia , quan yếu cho sự tồn vong của nhân loại.








LÂM LỄ TRINH

Thủy Hoa Trang,
Huntington Beach, Californie




[1] Tháng 3.1918, Lê nin  đã từng viết :” Chúng ta phãi biến báo chí thành một vỏ khí  để tái giáo dục quần chúng về mặt kinh tế . Việc áp dụng glasnost trong lảnh vực này sẽ khuyến khích dân chúng tham gia việc giải quyết các vấn đề liên hệ mật thiết với họ “ . Ngày 8.1.1988, trong báo Pravda, E. Primakov định nghĩa glasnost “ một phương tiện thiết yếu để ảnh hưởng công luận “ . Glasnost là một trong những điều được phe đối kháng Chính phủ  đòi hỏi. Năm 1969, Soljénitsyne viết :” Một glasnost thành thật và toàn vẹn  là điều kiện cần thiết hàng đầu cho một xã hội lành mạnh, kể luôn xã hội của chúng ta “.
[2] Vào thời khoảng này, danh từ gorbatchévisme , chủ thuyết gorbatchev , và gorbomania, phong trào cuồng si Gorbatchev, tạo thành một cái mốt ở Au châu , đặc biệt trong giới trẻ và trí thức .
[3] Học giả Jean Francois Revel  tóm tắc tính cách mâu thuẩn căn bản của vị thế của Gorbatchev trong môt định lý thường được giảii thích bằng sự kiện :” Cách duy nhứt để cải lương xã hội chủ nghĩa là thí bỏ nó đi “ đọc J.F.Revel, De la reversibilité du communisme “ trong Politique internationale. #41,1988 . Boris Yeltsin quyết liệt hơn :” Chủ thuyết CS không thể sửa đổi , cần thay thế “.
[4] Đọc “ Gorbatchev. Heretic in the Kremlin” by Dusko Doder & Louise Branson, Penguin Books, NY 1991 - “ Gorbatchev, the Path to Power,” by Christian Schmidt . Haueur Salem House Pub. MA 1986 - và “ Le Moment Gorbatchev “ by Francoise Thom, Hachette Pub. Paris 1987.